(Chủ nhật, 15/03/2026, 06:02 GMT+7)

 

Trong kho tàng di sản của Phùng Khắc Khoan, thơ ca giữ một vị trí đặc biệt, vừa thể hiện tâm hồn của một nhà nho lớn, vừa phản ánh tầm vóc trí tuệ và nhân cách của một nhà ngoại giao, Danh nhân văn hoá lịch sử của dân tộc. Những bài thơ Phùng Khắc Khoan được giới thiệu dưới đây do nhà văn Đặng Văn Sinh chuyển dịch, trích từ nguồn tư liệu phục vụ hồ sơ đề cử Phùng Khắc Khoan trở thành Danh nhân văn hoá thế giới. Qua bản dịch giàu cảm xúc và thấm đẫm tinh thần học thuật, bạn đọc hôm nay có cơ hội tiếp cận gần hơn với thế giới tinh thần của Trạng Bùng – nơi hội tụ khí phách của một bậc sĩ phu, tầm nhìn của một nhà ngoại giao và chiều sâu của một tâm hồn thi sĩ. Những vần thơ ấy không chỉ là tiếng nói của một thời đại, mà còn là giá trị văn hoá bền bỉ, góp phần làm sáng rõ hơn chân dung một danh nhân lớn của lịch sử Việt Nam.
 

Nhà văn Đặng Văn Sinh

 



 








 
Phiên âm:
 
NGUYÊN ĐÁN THƯ ĐƯỜNG
         (Thời cái Giáp Thìn chi thập thất tuế dã)
 
Tạc dạ đông phong nhập thảo lư,
Tín truyền xuân đáo ngũ canh sơ.
Đình nhân sinh thảo tri niên kỉ,
Phù bất tu đào giác quỉ trừ.
Tiêu trưởng mặc quan thiên địa đạo,
Quán thông tế nhận thánh hiền thư.
Một kỳ học dữ niên câu tiến,
Tự thị ngô tâm lạc hữu dư.
 
Dịch nghĩa:
 
MỒNG MỘT TẾT ĐỀ VÀO NHÀ HỌC
(Bấy giờ là năm Giáp Thìn [1544], tôi 17 tuổi)
 
Đêm qua gió đông thổi vào nhà tranh([1]),
Báo tin cho biết xuân đã đến vào đầu canh năm.
Nhờ cỏ mọc ngoài sân mà thấy rõ năm mới đã sang([2]),
Không cần bùa gỗ đào, cũng biết quỷ bị trừ đuổi([3]).
Lặng nghe đạo trời đất, tiêu hao lại nảy nở,
Hiểu sâu, quán thông được sách thánh hiền.
Thường mong sự học đều tiến lên cùng số tuổi,
Được thế là tâm ta vui có thừa.
 
Dịch thơ:
 
Mái rạ, gió đông đêm trước thổi
Canh năm xuân đã đến hiên nhà
Sân ngoài cỏ mọc mừng năm mới
Cổng trước không bùa cũng hết tà
Ngẫm thấy cơ trời tròn lại khuyết
Mới hay đạo thánh lẽ sâu xa
Tuổi cao sự học hầu cùng tiến
An lạc, thanh nhà ấy chí ta.
 
                                          Đặng Văn Sinh dịch

 
 
 
Cuốn sách "Phùng Khắc Khoan - Thân thế, cuộc đời và sự nghiệp"

 




 








 
Phiên âm:
 
KÝ NGHIÊM PHỤ THỊ HUẤN THI
(Thời cái Ất Tị niên chi thập bát tuế dã. Thời dư chi Vân Canh
 du học, Nghiêm phụ tác thử thi dĩ huấn chi)
 
Nhĩ ly ngô lý chúc ngô mao,
Tính bản thông minh kiến thức cao.
Nhất quỹ dụng công tu học Khổng,
Phân âm tích quá thả sư Đào.
Hiển dương nhị tự nghi thâm niệm,
Viễn đại tiền trình vật đạn lao,
Khoa táo khắc gia giai lệnh tử,
Trúng hồng phương khả phó ngô bào.
 
Dịch nghĩa:
 
CHÉP BÀI THƠ CHA DẠY BẢO
(Bấy giờ là năm Ất Tỵ [1545], tôi 18 tuổi. Khi ấy tôi đi học
tại làng Vân Canh, cha tôi làm bài thơ này để dạy bảo tôi)
 
Con trai, bên trong con gắn liền với tâm phúc cha, bên ngoài con sát chặt với lông da cha([4]),
Bẩm tính con vốn thông minh, kiến thức con vốn cao.
Một sọt đất làm nên núi cũng phải cố hết sức, nên học lời Không Tử([5]),
Một khắc thời gian trôi qua cũng phải tiếc, hãy học theo chí của Đào Khản([6]).
 
Hai chữ “hiển dương” nên để sâu trong tâm niệm([7]),
Tương lai phía trước bao la rộng lớn, chớ có ngại nỗi gian lao.
Hơn cha hay nối được nghiệp cha đều là người con tốt cả,
Sao cho đỗ cao mới không phụ lòng cha([8]).
 
Dịch thơ:
Con là máu thịt của cha
Thông minh vốn sắn, tài hoa hơn đời
Thời gian chớ phí của trời
Một sọt đất cũ ng nhớ lời Khổng gia
Hiển dương tâm niệm lo xa
Vì tương lai chớ nề hà gian lao
Hơn cha, việc đáng tự hào
Khoa này con được đỗ cao cha mừng.
 
                                  Đặng Văn Sinh dịch

 
 
Một số tài liều được chuẩn bị cho việc đề xuất Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan là Danh nhân văn hóa thế giới

 

 
 



 







椿 
 
Phiên âm:
 
NGUYÊN NHẬT
(Thời cái Bính Ngọ, thập cửu tuế dã. Thị tuế lục nguyệt,
phụ để thụ Đông Lan huyện Tri huyện, dư dữ đệ Khắc Tráng
tòng chí nhậm sở)
 
Tự tòng nhất khí chuyển hồng quân,
Thặng hỉ niên lai tiết hậu tân.
Bách tửu khư hàn nghênh lệnh đán,
Tiêu bàn hiến tụng lạc phương thần.
Tiêu hồi tinh đẩu thời hành Hạ,
Án tích đồ thư nhật hữu xuân.
Chước liễu đồ tô vô tá sự,
Túc tương ngũ phúc chúc linh xuân.
 
Dịch nghĩa:
 
NGÀY ĐẦU NĂM
(Bấy giờ năm Bính Ngọ [1546], tôi 19 tuổi. Tháng 6 năm ấy,
 cha tôi đi nhậm chức Tri huyện huyện Đông Lan([9]), tôi và em tôi
 là Khắc Tráng([10])theo cha tôi đến chỗ nhậm sở)
 
Từ khi khí trời chuyển bàn xoay vần của tạo hóa,
Lại mừng sang năm mới tiết trời đổi mới.
Uống rượu ngâm lá bách trừ tà khí, đón ngày đầu xuân,
Dâng tụng hoa tiêu chúc thọ([11]), vui buổi lương thần.
Chuôi sao Bắc đẩu([12]) xoay dần, thời tiết theo lịch nhà Hạ([13]),
Bàn xếp sách vở đầy cả, tháng này vui cảnh xuân.
Rót rượu đồ tô([14]) chúc nhau xong, không có việc gì nữa,
Chỉ có việc là đem ngũ phúc([15]) chúc thọ phụ thân.
 
Dịch thơ:
 
Từ khi thời tiết chuyển xoay vần
Vui vẻ gia đình đón tiết xuân
Rượu bách trừ tà năm mới đến
Hoa tiêu chúc thọ buổi lương thần
Chuôi sao Bắc Đẩu xoay hành Hạ
Bàn xếp sách đầy đón cảnh xuân
Chén rượu đồ tô xong hết việc
Mới đem ngũ phúc kính song thân.
 
                                         Đặng Văn Sinh dịch
 

      


 








 
 
Phiên âm:
 
KỲ NHỊ
 
Thiết tác tâm tràng thạch tác can,
Lăng lăng kính khí nhật tinh hoàn.
Linh đài oánh nhược tam thu thủy,
Tố nghiệp hương ư ngũ quế san (sơn).
Gia hữu thư tàng xuân phú quý,
Lự vô trần mỗi nhật thanh nhàn.
Dĩ văn chương hiển ngô nho sự,
Đầu bút hà tu hiệu A Ban.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI HAI
 
Tâm tràng như sắt, gan như đá,
Khí phách cứng rắn hoàn toàn như sao như mặt trời.
Tấm lòng trong sáng như nước ba tháng mùa thu,
Nghiệp thanh bạch thơm tho hơn năm cây quế([16]).
Nhà chứa nhiều sách vở, xuân sang thêm giàu.
Tâm không bị trần tục làm bẩn, ngày thường thanh nhàn.
Dùng văn chương để làm hiển đạt sự nghiệpcủa nhà nho ta,
Cần gì phải bắt chước Ban Siêu ném bút xuống đất([17]).                                           
 
Dịch thơ:
 
Tâm tràng như sắt, đá đúc gan
Tinh nhật xông pha vũ trụ gian
Lòng tựa ba thu hồ nước lặng
Nghiệp nhà hơn cả Đậu Yên san
Đầy kho sách cổ càng phú quý
Rũ sạch bụi trần hưởng thú nhàn
Nho đạo hiển dương thành sự nghiệp
Cớ gì ném bút học chàng Ban?
 
                                        Đặng Văn Sinh dịch      

  
Gia đình nhà văn Phùng Văn Khai tại Hội thảo Phùng Khắc Khoan năm 2013 



 

耀






 
Phiên âm:
 
KỲ TAM
 
Văn tinh cửu dĩ hiện Phùng thôn,
Ưng vị ngô gia diệu phúc môn.
Phụ tử tương truyền Nho thị nghiệp,
Cổ kim bất biến đạo thường tồn.
Thanh chiên nghiệp kế gia thanh cựu,
Bạch nhật hoan thừa thái sắc ôn.
Thiên ý chí công vô hậu bạc,
Chỉ lưu phúc tố ngã nhi tôn.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI BA
 
Văn tinh lâu nay đã hiện ở làng Bùng([18]),
Nên vì nhà ta soi sáng cửa phúc.
Cha con nối nhau truyền nghiệp Nho gia,
Đạo còn mãi xưa nay không biến đổi.
Cái nệm lông xanh([19]) nối nghiệp cha ông, nếp nhà theo lối cũ,
Ngày sáng rõ, vui lòng cha mẹ, đượm vẻ vui tươi.
Ý trời rất công bằng, không hậu bạc với ai cả,
Chỉ để phúc lại cho con cháu làm nên mà thôi.
 
Dịch thơ:
 
Văn Xương đến địa phận thôn Bùng
Chiếu ứng nhà ta sáng một vùng
Con nối chí cha hưng nghiệp lớn
Xưa nay chẳng đổi, đạo vô cùng
Nệm xanh kế nghiệp theo đường cũ
Ngày sáng vui hòa khúc nhạc chung
Thiên ý công bằng không lệch lạc
Chỉ lưu phúc đức hiển họ Phùng.
 
                                    Đặng Văn Sinh dịch

 
 


 








 
Phiên âm:
 
TRỪ TỊCH
 
Hảo bả tân thi tống cựu niên,
Chung tiêu thủ tuế vị thành miên.
Thiên môn thành thị khai đăng hỏa,
Kỷ thốc lâu đài náo quản huyền.
Đông bán dạ tiền hàn thượng thiển,
Xuân tam canh hậu tín sơ truyền.
Song tiền dĩ hữu mai hoa lịch,
Số học kham suy Thiệu tiên thiên.
 
Dịch nghĩa:
 
ĐÊM BA MƯƠI TẾT
 
Hãy đem thơ mới tiễn năm cũ,
Suốt đêm giữ năm cũ mà không được ngủ.
Hàng ngàn cửa nhà ở thị thành sáng đèn đuốc,
Lâu đài bao nhiêu chỗ náo rộn tiếng đàn sáo.
Trước lúc nửa đêm là mùa đông, khí rét vẫn còn rớt lại,
Thế mà sau lúc canh ba tin xuân đã truyền về.
Trước cửa sổ đã có lịch bằng cây mai nở hoa,
Nói về số học, thật phục cách học của Thiệu Tử([20]).
 
Dịch thơ:
 
Tân thi viết tiễn cựu niên
Suốt đêm trằn trọc chẳng yên giấc vàng
Thị thành đèn đuốc sáng choang
Lâu đài náo nhiệt rộn ràng đàn ca
Nửa đêm lạnh vẫn chưa qua
Tin xuân sau lúc canh ba đã truyền
Hoa mai nở trắng ngoài hiên
Ngẫm ra thật phục cơ huyền Thiệu khang.
 
                                        Đặng Văn Sinh dịch
 

 


([1])Gió đông: tức gió xuân. Theo quan niệm xưa, gió tự phương đông thổi lại là gió xuân.
([2])Cỏ mọc ngoài sân: dịch chữ “đình thảo”, do điển Chu Đôn Di thường để mặc cỏ mọc ở ngoài sân cho có sinh khí.
([3])Bùa gỗ đào: dịch chữ “đào phù”, đào phù là loại phù hiệu bằng gỗ đào, khắc hay vẽ lên đó hai vị thần là Thần Đồ và Uất Lũy để trừ đuổi ma quỷ. Năm mới người ta thường treo đào phù ở cửa, về sau thường thay đào phù bằng câu đối.
([4])Câu này dùng ý thơ ở thiên Tiểu biền trong Kinh Thi: “Bất chúc vu mao, bất ly vu lý”, nói gọn là “ly lý chúc mao”, ý nghĩa: gắn liền với tâm phúc, khăng khít với da lông, chỉ quan hệ ruột thịt giữa cha mẹ với con cái.
([5])Sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn trích lời Khổng Tử rằng: “Người đi học ví như đắp núi, còn một sọt đất nữa thì thành quả núi, nếu bỏ dở thì phí cả công lao trước đó”.
([6]) Đào Khản: một trong những vị khai quốc công thần của nhà Đông Tấn. Ông thường nói: “Đại Vũ là Thánh mới tiếc từng tấc bóng (chỉ quang âm, thời gian trôi qua), người thường nên tiếc từng phân bóng”.
([7])Hiển dương: tức câu “dương thanh danh, hiển phụ mẫu”, nghĩa là làm cho bản thân nổi danh, khiến cho bố mẹ vinh hiển.
([8])Nguyên văn có chữ “trúng hồng”, tức “trúng hồng tâm”, bắn trúng hồng tâm, trúng đích, ý nói người đỗ đạt cao.
([9])Đông Lan: địa danh, tên huyện xưa thuộc tỉnh Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Phú.
([10])Khắc Tráng: em trai Phùng Khắc Khoan. Chưa rõ lai lịch, hành trạng người em này của ông.
([11])Tích xưa, vợ Lưu Trăn là Trần thị dâng bài tụng Tiêu hoa vào dịp tết. Bài tụng này nói việc dâng rượu nấu bằng hạt cây hồng tiêu để chúc thọ.
([12])Chòm sao Bắc đẩu có 7 ngôi, 3 ngôi ở chuôi gọi là “tiêu”.
([13])Lịch nhà Hạ: tương truyền có từ đời nhà Hạ, lấy tháng Giêng làm đầu năm.
([14])Đồ tô: tên một loại rượu dùng uống vào ngày mồng một tết để trừ tà khí. Mọi người trong gia đình theo thứ tự uống mừng tuổi nhau.
([15])Ngũ phúc: tức sống lâu, giàu có, mạnh khỏe bình yên, thích làm điều nhân đức và tận hưởng tuổi già.
([16])Đậu Yên Sơn có năm người con đều ở hàng khoa hoạn, đời gọi là 5 cây quế.
([17])Ban Siêu người đời Hán, lúc nghèo khổ thường đi viết thuê kiếm miếng ăn, cuộc sống rất chật vật. Một hôm ông phẫn chí ném bút xuống đất nói: “Tài trai nên lập công ở ngoài; hà tất phải theo nghiệp bút nghiên mãi”. Sau đó đầu quân đi đánh dẹp, lập nhiều võ công, được vua phong thưởng.
([18])Làng Bùng: làng quê của Phùng Khắc Khoan.
([19])Cái nệm lông xanh: đó là vật biểu tượng cho sự nối nghiệp của nhà Nho. Vương Hiến Chi, một danh sĩ đời Tấn, đêm nằm trong buồng học, kẻ trộm vào lấy của, Vương nói: “Kẻ trộm kia! Cái nệm lông xanh kia là cổ vật của nhà ta để lại”. Nhà họ Vương nổi tiếng về văn học và thư pháp với các tên tuổi như Vương Hy Chi, Vương Hiến Chi.
([20])Thiệu Tử: tức Thiệu Khang Tiết, một nhà Lý học đời Tống. Ông có bộ Mai hoa dịch số, chuyên đoán về biến đổi của vận số.