(Thứ sáu, 06/03/2026, 03:53 GMT+7)

 

 
Với mong muốn góp phần làm sáng rõ hơn giá trị văn hoá và tư tưởng của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan - Danh nhân văn hóa lịch sử tiêu biểu, trong quá trình chuẩn bị bộ hồ sơ đề nghị vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới cũng như tiến tới kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông(1528-2028), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài thơ của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Những bài thơ này được dịch bởi nhà văn Phùng Văn Khai, với mong muốn giúp độc giả hôm nay tiếp cận gần gũi hơn với tinh thần, khí cốt và chiều sâu tư tưởng trong di sản thơ văn của Phùng Khắc Khoan. Qua những vần thơ ấy, người đọc có thể cảm nhận rõ hơn tầm vóc trí tuệ, nhân cách và tâm hồn của một bậc đại khoa đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn hoá dân tộc.



Nhà văn Phùng Văn Khai

 

 
 








 
Phiên âm:
 
SÔ NGU
 
Lạp giốc ngô tri mã dữ ngưu,
Thú danh thùy thức hữu sô ngu.
Chất đồng ư hổ văn phi hổ,
Hình loại hồ chu tính dị chu.
Cận bị hầu bang nhân biến cập,
Viễn chiêm vương giả đức bàng phu.
Mao trùng nhược luận thùy kham tỉ,
Duy hữu kỳ lân khả tịnh khu.
 
Dịch nghĩa:
 
CON SÔ NGU([1])
 
Ta biết loài có bờm và loài có sừng là ngựa và trâu,
Tên loại thú mấy ai biết có con sô ngu.
Chất giống hổ mà vằn không phải hổ,
Hình giống báo mà tính lại khác báo.
Gần thì nhân từ thấm khắp các chư hầu([2]),
Xa thì đức độ tỏa đến đấng vương giả([3]).
Nếu bàn về mao trùng thì loài nào sánh được?
Chỉ có kỳ lân([4]) có thể cùng sánh bước.
 
Dịch thơ:
 
SÔ NGU
Thế gian từng biết ngựa trâu
Mấy người biết đến cơ cầu sô ngu
Vẻ vằn như hổ thâm u
Khác chi báo chỉ tâm tư khác thường
Chư hầu rộng khắp yêu thương
Đức nòi vương giả dặm trường long xa
Trăm loài khôn sánh câu ca
Có chăng sóng bước chỉ là kỳ lân.
Phùng Văn Khai dịch

 

Bộ sách "Phùng Khắc Khoan - Hợp tuyển thơ văn"

 

 








 
Phiên âm:
 
THÙ TÊ
 
Cao hạ hồng tiêm vật bất tề,
Tiểu trùng kiến thuyết hữu thù tê.
Chi ngưng ư phấn nan thi phấn,
Thân xuất vu nê bất nhiễm nê.
Thân khuất vô phi thiên lý giả,
Thanh dương khả thí mỹ nhân hề.
Thùy tri nhất cá vô tri vật,
Thiên cổ tao nhân hữu phẩm đề.
 
Dịch nghĩa:
 
CON SÂU DÂU([5])
 
Vật có cao thấp lớn nhỏ, chẳng hệt nhau,
Thấy người ta nói con sâu dâu là loài bé nhỏ.
Mỡ đọng như phấn, khó bôi thêm phấn,
Thân sinh nơi bùn, chẳng bị nhuộm bùn.
Duỗi ra co vào, không gì không hợp lẽ trời,
Trong sáng rõ ràng, có thể ví như người đẹp.
Ai ngờ một loài vật vô tri,
Mà nhà thơ nghìn xưa đã đề vịnh đến.

Dịch thơ:
 
SÂU DÂU
Vật thời cao thấp ngắn dài
Sâu dâu nhỏ bé mấy ai nhắc cùng
Thân em một ngấn trắng trong
Sinh nơi bùn đất mà không lấm bùn
Duỗi co theo lẽ càn khôn
Mỹ nhân tự cổ tấc lòng thiên thu
Nào đâu sinh vật vô tri
Thi nhân thiên cổ bàn chi đến mình?

                                   Phùng Văn Khai dịch
 

   
  Nhà văn Phùng Văn Khai cùng các bạn trí tức tại sự kiện Ngày thơ Hà Nội

 









 
Phiên âm:
 
TẮC
 
Đạo truật cô lương chủng chủng sinh,
Cốc trung diệc hữu tắc vi danh.
Xuân lai toại toại miêu khoa hảo,
Thu đáo nhương nhương tuệ cạnh vinh.
Lang lệ thương doanh đa ủy tích,
Hinh hương miếu tiến bị tư thình.
Niên phong chính thị nông phu khánh,
Hỉ khởi ca canh lạc thái bình.
 
 
Dịch nghĩa:
 
LÚA TẮC([6])
 
Sinh các giống lúa: đạo, truật, cô, lương,
Trong các giống lúa cũng có lúa tắc.
Xuân đến, mạ non khoe mầu xanh mượt,
Thu sang, bông lúa đua tốt ùn ùn.
Kho đầy ăm ắp chứa chất được nhiều,
Tiến cúng thơm tho, sắm sửa cơm xôi đầy đủ.
Năm được mùa chính là phúc lành cho nông phu,
Mừng rỡ hát ca, vui đời thái bình([7]).
 
Dịch thơ:
 
LÚA TẮC
Sinh gồm đạo, truật, cô, lương
Có em sắc vóc toả hương tháng ngày
Xuân sang mầm mạ xanh dày
Thu về bông mẩy vàng cây khắp đồng
Kho đầy chan chứa trong dân
Thảo thơm dâng cúng lên phần tổ tiên
Nông phu no đủ bình yên
Mừng vui ca hát thái bình thiên thu.
                               Phùng Văn Khai dịch
 
 
 

 








 
Phiên âm:
 
LŨY
 
Cát loại nguyên lai bất nhất danh,
Cự qua bản thị mạn diên sinh.
Hoa sinh hạ trọng tranh khai diễm,
Thực hướng thu tiên tảo kết thành.
Cù mộc tằng văn xưng lạc đức,
Mạo khâu hà chí động ưu tình.
Nhất ban vật hữu nhất ban lý,
Quân tử tu đương cách trí tinh.
 
Dịch nghĩa:
 
CÂY CÁT LŨY([8])
 
Loài sắn dây vốn không phải là một tên gọi,
Đến như loại dưa lớn cũng vốn là giống mọc bò lan.
Hoa nở giữa mùa hè, đua nhau phô sắc đẹp,
Quả ra đầu mùa thu, sơm sủa kết thành.
Từng nghe ngợi khen đức vui vẻ trong thơ Cù mộc([9]),
Sao đến nỗi chạnh niềm lo lắng trong thơ Mạo khâu([10]).
Mỗi giống vật đều có cái lẽ riêng của nó,
Bậc quân tử phải nên thấu suốt tinh vi([11]).
 
Dịch thơ:
CÂY CÁT LUỸ
Sắn dây chung gốc cội cành
Kìa loài dưa mọc cùng xanh chân trời
Hè sang phô sắc thanh thơi
Mùa thu kết trái tay người thảo thơm
Sánh cùng Cù mộc công ơn
Chạnh niềm riêng mỗi oán hờn Mạo khâu
Lẽ riêng riêng của ai đâu?
Ơi người quân tử muôn sau tạc lòng.
                             Phùng Văn Khai dịch

 
Từ trái sang: Vợ chồng Trung tướng Phùng Khắc Đăng, vợ chồng nhà văn Hoàng Quốc Hải,
vợ chồng nhà văn Phùng Văn Khai tại Lễ ra mắt sách "Những điều còn lại" của Trung tướng Phùng Khắc Đăng.











 
Phiên âm:
 
TẦN
 
Giới khan phàm hủy tổng phân phân,
Khốc ái Giang Đông thủy thượng tần.
Đốt diệp mỗi ư xuân dĩ hậu,
Thác căn đô thị thủy chi tần.
Tiên nhân bạc thái phong lưu dị,
Tôn miếu kiền tương lễ ý tân.
Hoa khách chân vi tri vị giả,
Thích lai Ba truyện khởi vô nhân.
 
Dịch nghĩa:
 
RAU TẦN([12])
 
Loại rau thường biết bao mà kể,
Rất đáng yêu, rau tần mọc ở trên nước miền Giang Đông([13]).
Lá xanh mơn mởn từ mùa xuân trở đi,
Rễ bám đều là ở bến sông nước.
Người tiên([14]) đi hái lượm coi vẻ phong lưu khác thường,
Nhà tôn miếu dâng lễ tâm thành với ý niệm mới([15]).
Hoa khách([16]) thật là kẻ biết mùi vị,
Đem [rau tần] chú thích vào Kinh Thi lẽ nào không có nguyên nhân.
 
Dịch thơ:
RAU TẦN
Xanh bạt ngàn khắp chốn
Thân thuộc gọi rau tần
Rễ vươn nơi bến nước
Phủ khắp miền Giang Đông.
 
Xuân đong đưa lá biếc
Soi xuống dòng sông trong
Người tiên cất tiếng hát
Thảo thơm cùng siêng năng.
 
Ngàn năm trước đã vậy
Ngàn năm sau khác gì
Thái tần dâng tôn miếu
Sử sách còn mãi ghi.
 
Bậc hiền nhân biết đến
Trong nét mực Kinh Thi
Miền Giang Đông sóng cuộn
Cay mắt người tê tê.
          Phùng Văn Khai dịch
 
 
 

 








 
Phiên âm:
 
TẢO
 
Nhất tự kê tô nhất tự bồng,
Sinh lai chủng chủng dị nhi đồng.
Diệp phù hạnh thượng thanh phô thủy,
Hành trưởng tần biên bạch khởi phong.
Tiên chỉ bạc ư hàng lạo thái,
Kính tâm hậu khả miếu đình cung.
Phục chương huống hựu thi văn thái,
Giá lý phương tri hữu hóa công.
 
Dịch nghĩa:
 
RAU TẢO([17])
 
Một giống như loài thủy tô([18]), một giống như cỏ bồng,
Sinh ra mỗi loài tuy khác mà có chỗ giống nhau.
Lá nổi lên trên rau hạnh, màu xanh trải lên mặt nước,
Nhánh lớn bên cạnh rau tần, màu trắng, lay gió.
Ngón tay tiên hái lượm trong vũng nước bên đường([19]),
Lòng kính cẩn rất mực có thể dâng cúng miếu đình.
Huống chi lại đem [hình ảnh rau tảo] làm văn thái cho lễ phục,
Điều đó mới biết có bàn tay thợ trời tạo nên([20]).
 
Dịch thơ:
RAU TẢO
Sinh ra tất có khi dùng
Thuỷ tô ngấn nước cỏ bông thơm đêm
Trải mềm mặt nước hồ xanh
Sánh cùng tần, liễu long lanh nắng vàng
Tiện tay hái lượm bên đàng
Miếu đường dâng cúng phong quang đức trời
In trên phẩm phục rạng ngời
Đều từ muôn dặm sương phơi mà thành.
                                         Phùng Văn Khai dịch

 


([1])Sô ngu: Tên một loài thú, giống con hổ, mình trắng có vằn đen, tính rất nhân hậu, không ăn những vật còn sống, không dầy xéo lên cỏ cây. Theo cách chú giải xưa, các vua chư hầu thấm nhuần giáo hóa của Chu Văn Vương, có lòng nhân chính yêu dân; cho nên người đời ca ngợi họ, ví họ như con sô ngu.
([2])Câu này ý nói, con sô ngu nhân hậu, nên gần nhất thì ví với vua các nước chư hầu.
([3])Ý nói, chư hầu có lòng nhân hậu là do có giáo hóa của đấng vương giả thấm nhuần tới.
([4])Thơ Chu Nam trong Kinh Thi có bàiLân chi chỉ nói con kỳ lân là loài thú có sừng mà không húc người, có chân mà không dẫm đạp lên loài vật khác, là loài thú nhân hậu, tượng trưng cho đức tính nhân từ của bậc vương giả.
([5])Con sâu dâu: một loài sâu mầu trắng như sữa, đục vào thân cây dâu, béo và sạch. Trong Kinh Thi ví cổ người con gái đẹp như con sâu dâu (lĩnh như thù tê).
([6])Lúa tắc: tức lúa tám cánh, mùi thơm ngon.
([7])Câu này, văn bản gốc chỉ còn bốn chữ cuối: “canh lạc thái bình”. Người dịch đã mạn phép thêm vào ba chữ đầu câu: “Hỷ khởi ca” để có nghĩa phù hợp với bài thơ.
([8])Cát lũy: một loại dây leo, thuộc họ hàng của sắn dây.
([9])Cù mộc: một loại cây mọc cong cong; cũng là tên một thiên trong thơ Chu Nam, Kinh Thi, nội dung ca ngợi bà Hậu Phi (vợ Văn Vương) độ lượng với các bà vợ lẽ. Cho nên họ ca ngợi đức độ của bà như cây cong để loài dây leo nương tựa.
([10])Mạo khâu: tên một thiên trong Kinh Thi, nói bề tôi nước Lê lưu vong sang nước Vệ, không được nước Vệ cứu giúp. Họ lo lắng, làm thơ Mạo khâu tỏ ý trách móc nước Vệ.
([11])Thấu suốt: được dịch thoát ý từ hai chữ “cách trí”, tức “cách vật trí tri”. Theo Tăng Tử trong sách Đại học thì “cách vật trí tri” là cái học thấu suốt mọi sự vật và hiểu biết lý lẽ sự vật đến mức tận cùng.
([12])Rau tần: loại rau ăn được, mọc ở trên nước. Thơ Thiệu Nam trong Kinh Thi có bài Thái tần ca ngợi các vị phu nhân - vợ vua chư hầu cần kiệm, chăm lo việc phục vụ cúng tế tôn miếu. Họ đi hái rau tần, rau tảo về làm canh cúng lễ tổ tiên.
([13])Giang Đông: thuộc lưu vực sông Trường Giang ở phía Nam.
([14])Người tiên: ở đây chỉ các bà phu nhân hái rau tần, rau tảo trong thơ Thái tần.
([15])Ý nói rau tần là thứ lễ vật cúng tế tôn miếu.
([16])Hoa khách: chỉ vị học giả nắm vững đặc tính của mỗi loài thảo mộc.
([17])Rau tảo: tên một loài rau nước, có văn thái đẹp. Cho nên trong văn Hán cổ thường ghép nó với một chữ khác để chỉ văn thái đẹp như: tảo sức, tảo giám, tảo bút...
([18])Thủy tô: dịch chữ “kê tô”. Kê tô là tử tô sinh ở trong ao, nên gọi là thủy tô.
([19])Vũng nước bên đường: dịch nghĩa ba chữ “hàng lạo thái”. Bài Thái tần trong Kinh Thi có câu: “Vu dĩ thái tảo, vu bỉ hàng lạo” (hái rau tảo ở vũng nước bên đường).
([20])Lễ phục thời xưa có thêu hình rau tảo. Ý thơ nói rau tảo là thứ rau quí do bàn tay tạo hóa tạo nên.