(Chủ nhật, 08/03/2026, 01:45 GMT+7)


 

Với mong muốn góp phần làm sáng rõ hơn giá trị văn hoá và tư tưởng của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan - Danh nhân văn hóa lịch sử tiêu biểu, trong quá trình chuẩn bị bộ hồ sơ đề nghị vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới cũng như tiến tới kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông(1528-2028), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số bài thơ của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Những bài thơ này được dịch bởi nhà văn Phùng Văn Khai, với mong muốn giúp độc giả hôm nay tiếp cận gần gũi hơn với tinh thần, khí cốt và chiều sâu tư tưởng trong di sản thơ văn của Phùng Khắc Khoan. Qua những vần thơ ấy, người đọc có thể cảm nhận rõ hơn tầm vóc trí tuệ, nhân cách và tâm hồn của một bậc đại khoa đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử văn hoá dân tộc.


 

 

Nhà văn Phùng Văn Khai

 

 








 
Phiên âm:
 
ĐỒNG
 
Khí đắc ư thiên vật vật đồng,
Thùy tương tứ chủng biệt ngô đồng.
Cao cương dạ chiếu thiên chi nguyệt,
Kim tỉnh thu truyền vạn diệp phong.
Tứ hậu tiễn khuê Chu lệnh chủ,
Ca hình phạt sắt Vệ Văn công.
Hữu thi dẫn đắc minh triêu phượng,
Áp đảo viên lâm bách vạn tùng.
 
 
Dịch nghĩa:
 
CÂY NGÔ ĐỒNG
 
Bẩm thụ khí trời, mọi vật đều giống nhau,
Ai đã đem ngô đồng để chia ra làm bốn loại([1])?
Trên gò cao([2]) trăng đêm soi thấu nghìn cành,
Bên giếng vàng([3]) gió thu truyền khắp muôn lá.
Bậc vua hiền nhà Chu ý tứ đôn hậu, khi cắt làm hình cái khuê([4]),
Văn công nước Vệ lời ca biểu hiện khi chém gỗ làm đàn sắt([5]).
Có lời thơ dẫn được tiếng chim phượng kêu lúc sớm mai([6]),
Áp đảo cả trăm vạn khóm cỏ cây trong vườn rừng.
 
 
Dịch thơ:
 
CÂY NGÔ ĐỒNG
 
Khí trời vạn vật như nhau
Ngô đồng bốn chủng một màu lá xanh
Đêm trăng soi thấu nghìn cành
Giếng vàng lá rụng khởi hành gió thu
Chu vương há dễ câu đùa?
Vệ công hưng quốc hơi mưa sắt cầm
Phượng kêu trong buổi sớm xuân
Cây rừng vạn khóm xa gần cung nghinh.
 
                                Phùng Văn Khai dịch
 
 
 

    

Cuốn sách “Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan - Thân thế, cuộc đời và sự nghiệp”

 


 








 
Phiên âm:
 
CỐI
 
Bách diệp tùng thân dị chủng sinh,
A thùy mộc dĩ cối vi danh?
Ngang tiêu tủng hác tiêu kham ngưỡng,
Ngạo tuyết lăng sương tiết dũ trinh.
Phả tại Ba thi, thời thủ trọng,
Danh thùy Vũ cống giá phi khinh.
Tế xuyên dụng nhữ tác chu tiếp,
Phó ngã hoàng vương ỷ vọng tình.
 
 
 
 
Dịch nghĩa:
 
CÂY CỐI([7])
 
Lá bách, thân tùng, sinh ra là một giống khác,
Kìa ai đặt tên cây là cối?
Vươn lên tầng mây, cao trội trên bờ suối, đáng ngưỡng vọng,
Nhờn với tuyết, lấn cả sương, tiết tháo tỏ ra vững vàng.
Phả hệ nêu ở Kinh Thi được đời xem trọng([8]),
Danh để lại trong thiên Vũ cống, phẩm giá chẳng thường([9]).
Vượt qua sông lớn, dùng nhà ngươi làm bơi chèo,
Thỏa mãn lòng trông cậy của nhà vua ta.
 
Dịch thơ:
 
CÂY CỐI
 
Sinh ra lá bách, thân tùng
Tên do người đặt, mịt mùng đã sao?
Ươm mây giữa những tầng cao
Gội sương, dầm tuyết biết bao vững vàng
Kinh Thi dấu tích khang trang
Hạ thư - Vũ cống rõ ràng chín châu
Vượt bao sông rộng, biển sâu
Vua ta trông cậy bền lâu tin dùng.
 
                             Phùng Văn Khai dịch

        

Nhà văn Phùng Văn Khai và vợ (bìa trái) cùng các bạn trí thức

 

 








 
Phiên âm:
 
ĐÀN
 
Hứa đa vật hữu hứa đa ban,
Giá lý na tri thụ hữu đàn.
Hoạt trạch thanh bì tư vũ nhuận,
Kiên trinh tố tiết ngạo sương hàn.
Tài sinh bản thị thiên tâm hậu,
Luân trác toàn quy tử tượng quan.
Nhất nhập Ba thi hình phẩm tảo,
Hương thanh lưu thủ hậu nhân khan.
 
Dịch nghĩa:
CÂY ĐÀN
 
Trong muôn vật có nhiều loại khác nhau,
Trong đó nào hay loài cây có cây đàn.
Nhựa trơn, da xanh, nhờ có mưa nhuần thấm,
Lõi cứng bền, tiết tháo trắng trong, xem thường sương giá.
Tài chất sinh ra vốn được lòng trời vun đắp,
Đẽo gọt thành bánh xe đều do thợ mộc suy xét.
Một khi đưa vào thơ trong Kinh Thi mà biểu hiện ra văn chương,
Tiếng thơm để lại cho người đời sau soi gương.
 
Dịch thơ:
 
CÂY ĐÀN
 
Khác nhau muôn loại dưới trời
Ai hay riêng một thảnh thơi cây đàn
Da xanh tưới tắm suối nguồn
Lá bền, lõi cứng xem thường gió sương
Lòng trời soi xét yêu thương
Sai người thợ mộc đo lường binh xa
Kinh Thi văn bút sơn hà
Tiếng thơm để lại ai đà soi gương.
 
                           Phùng Văn Khai dịch

 


([1])Người xưa chia ngô đồng ra làm bốn giống: giống hoa trắng, giống hoa tía, giống đực, giống cái.
([2])Trên gò cao: Kinh Thi có câu: “Ngô đồng sinh hỹ, vu bỉ cao cương” (ngô đồng mọc ở gò cao kia). Câu này ý nói: cây ngô đồng có ánh trăng soi vào càng thêm đẹp.
([3])Bên giếng vàng: Cổ thi: “Ngô đồng nhất diệp lạc, thiên hạ cộng tri thu” (Ngô đồng rụng một lá, thiên hạ đều biết thu), nói lá ngô đồng rụng trên giếng vàng là báo hiệu mùa thu đã đến.
([4])Cơ Tụng (Thành Vương nhà Chu) lúc bé chơi với các em, bẻ ká ngô đồng cắt làm hình cái khuê phong cho em là Ngu Thúc. Sử Dật chúc mừng. Cơ Tụng nói rằng: “Ta bỡn đùa với em bé thôi”. Sử Dật nói: “Thiên tử không bao giờ nói đùa!”. Cơ Tụng bèn phong cho Ngu Thúc đi làm vua đất Đường.
([5])Chém gỗ làm đàn sắt: Thơ Dung phong khen Vệ Văn công trung hưng nước Vệ, xây dựng cung điện và trồng các loại cây như: trăn, lật, ỷ, đồng, tử, tất để sau này chế tạo đàn cầm, đàn sắt. Đề vịnh cây đồng cho nên thơ đề cập đến chữ “phạt sắt”.
([6])Tiếng chim phượng kêu lúc sớm mai: Kinh Thi có câu: “Phượng hoàng minh hỹ, vu bỉ triêu dương” (phượng hoàng kêu ở chỗ mặt trời mọc buổi sớm), “ngô đồng sinh hỹ, vu bỉ cao cương” (ngô đồng mọc ở trên gò cao kia), “bồng bông thê thê, ung ung ê ê” (ngô đồng tươi tốt, tiếng phượng ngân nga).
([7])Cây cối: một trong những loại cây gỗ quí được sánh ngang với tùng, bách.
([8])Cối là một trong những cây được nêu trong Kinh Thi.
([9])Vũ cống: tên một thiên sách của phần Hạ thư trong Kinh Thư, ghi rõ thổ ngơi, chất đất và các loài cây thuộc Cửu châu (chín châu) của Trung Quốc, trong đó có cây cối.