Trước khi đến Tạp chí Văn nghệ Quân đội tại địa chỉ số 4 Lý Nam Đế vào một buổi chiều thu khi Hà Nội đã rợp cờ hoa chuẩn bị đón Tết Độc lập 2/9, tôi chợt nhớ đến hai câu thơ của Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai viết về "ngôi đền văn chương" này: "Mảnh trăng cuối rừng" nghe gió thổi/ "Sóng ở đáy sông" bỗng bồi hồi. Cách đan cài khéo léo tên hai tác phẩm để đời của các nhà văn gạo cội Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu như một lời tri ân, gợi mở về một không gian nghệ thuật đầy kiêu hãnh.
Đúng hẹn với phóng viên Báo Dân Việt, Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai trở về cơ quan ngay sau chuyến công tác cùng các đồng đội. Cùng bước vào phòng làm việc của ông, chúng tôi lập tức bị cuốn hút bởi một không gian ngập tràn tri thức, nơi từng khoảng trống được lấp đầy một cách ngăn nắp, chỉn chu bởi những chồng sách văn học, lịch sử, thơ ca... Đặc biệt hơn cả là sự xuất hiện của hình tượng chú trâu trên nhiều chất liệu: từ tượng, tranh treo tường cho đến nét vẽ mộc mạc, hóm hỉnh trên bìa tập Thơ viết cho mình mà ông vừa ra mắt.
Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai giới thiệu Phòng truyền thống Tạp chí với phóng viên Báo Dân Việt
Trò chuyện với "người lính nhà văn" gốc Hưng Yên - người cần mẫn trên từng luống cày chữ nghĩa với "gia tài" hơn 30 đầu sách cùng loạt tiểu thuyết lịch sử đồ sộ, mới biết ông là "con nhà nông" chính hiệu, từng thành thạo cày "6 đường, 8 đường" theo đúng nghĩa đen. Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu từ những khoảng lắng đọng, khi vui vẻ hào sảng, lúc lại lặng đi giữa ký ức...
Thưa Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai! Vừa đảm nhận vai trò "thuyền trưởng" Tạp chí Văn nghệ Quân đội - nơi được coi là "pháo đài" kỷ cương bậc nhất về tư tưởng văn nghệ, ông có cảm xúc như thế nào?
- Thời gian qua, Hội Nhà văn và đời sống văn học gặp không ít sóng gió, nhưng những tiếng nói công tâm, tâm huyết, trí tuệ vẫn luôn được cất lên.
Tôi cho rằng những nhìn nhận, soi xét về văn học trong thời điểm này đôi khi còn có sự thiên kiến. Người bênh thì bênh quá đà cho văn chương như thần thánh, nhưng người “xúc đất đổ đi” lại coi văn chương là thứ vô bổ, không xác đáng và không cập nhật đời sống nhân dân. Nhìn nhận như vậy là chưa đúng, bởi văn học Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, tạo điều kiện trưởng thành để phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.
Khi "sóng gió" nổi lên, các nhà văn quân đội chúng tôi dù chịu sức ép và sự soi xét nhất định, nhưng luôn xác định: Đội ngũ cầm bút phải trưởng thành, phải bản lĩnh.
Tôi khẳng định rằng, Đảng và Nhà nước hoàn toàn có thể yên tâm về đội ngũ nhà văn quân đội. Đội ngũ này đã đồng hành cùng cách mạng từ những ngày đầu gian lao nhất. Như nhà văn Thanh Tịnh - người từ thời tiền chiến đã làm thơ văn rồi theo bộ đội vào chiến trường trước khi về phụ trách Văn nghệ Quân đội. Hay Thiếu tướng, nhà văn Văn Phác - người đặt gạch nối đầu tiên cho Tạp chí, sau này là Bộ trưởng Bộ Văn hóa, từng hành quân trên những chuyến tàu không số vào miền Nam những năm 1960. Tiếp nối họ, các nhà văn Hồ Phương, Dũng Hà, Nguyễn Chí Trung... đều vừa cầm bút vừa cầm súng và trở thành những vị tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đội ngũ nhà văn quân đội đã có hàng chục người được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật; tên họ được trân trọng đặt cho nhiều con đường, góc phố. Nền văn học ấy được sinh ra và tôi luyện từ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Những tác phẩm tiêu biểu như Đồng chí của Chính Hữu, hay Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu... đã đi vào tâm khảm nhiều thế hệ. Chúng tôi ngày trước bước vào ngưỡng cửa đại học đều được nuôi dưỡng tâm hồn từ những giá trị văn chương cao đẹp đó.
Có ý kiến lo ngại người cầm bút và các nhà xuất bản sẽ nảy sinh tâm lý e ngại, thậm chí né tránh các vấn đề gai góc sau những xử lý sai phạm vừa qua. Quan điểm của ông ra sao?
- Chúng ta vẫn thường nói: "Kỷ luật là sức mạnh của quân đội". Khi đã vô tổ chức, vô kỷ luật thì không thể là một tập thể vững mạnh. Kỷ luật để giúp người có khuyết điểm trưởng thành hơn. Nếu kỷ luật để triệt tiêu một tập thể hay một con người thì đó không phải là sức mạnh.
Mỗi nhà văn phải tin tưởng và cất tiếng nói mạnh mẽ, khẳng định: Đội ngũ nhà văn bao giờ cũng phụng sự nhân dân và Tổ quốc. Viết về chiến tranh, Đổi mới hay kỷ nguyên vươn mình của dân tộc..., đất nước đều rất cần họ. Nhà văn là "thư ký của thời đại", phải ghi chép được những chuyển động lớn lao, những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nếu người cầm bút chùn bước hay né tránh trước "sóng gió" thì làm sao hoàn thành được sứ mệnh đó?
Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị xác định phát triển văn hóa là một "trụ cột" cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Và nếu không dùng những tác phẩm văn học đích đáng để bồi dưỡng tâm hồn người Việt thì chẳng lẽ lại lấy tác phẩm nước ngoài vào giảng dạy? Đất nước đổi mới có bao nhiêu thành tựu vĩ đại, nếu nhà văn không tuyên truyền đúng tầm thì cái xấu, cái ác từ những việc chưa rõ đúng - sai sẽ chèn vào và hằn lên, còn những tác phẩm có ích lại ít được nhắc đến.
Thế hệ nhà văn chúng tôi hôm nay nhập cuộc tự tin là vì phía trước đã có nền tảng vững chắc từ các bậc tiền bối như Lê Lựu (Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông), Nguyễn Khắc Trường (Mảnh đất lắm người nhiều ma), Nguyễn Trí Huân, Trung Trung Đỉnh... Họ đã tạo dựng nên những thành tựu chung cho văn chương nước nhà và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Như nhà văn Chu Lai, khi kịch bản Mưa đỏ chuyển thể thành phim đã kéo hàng triệu khán giả đến rạp. Đó chính là đóng góp của thế hệ nhà văn trưởng thành từ Văn nghệ Quân đội.
Riêng cá nhân tôi, khi viết các tiểu thuyết lịch sử như Phùng Vương, Ngô Vương, Nam Đế Vạn Xuân... sách được tái bản liên tục chính là do công chúng có nhu cầu tìm đọc để phục vụ đời sống tinh thần của họ. Do đó, người cầm bút không có lý do gì để phải e ngại, né tránh.
Theo Đại tá Phùng Văn Khai, mỗi nhà văn phải tin tưởng và cất tiếng nói mạnh mẽ, khẳng định: Đội ngũ nhà văn bao giờ cũng phụng sự nhân dân và Tổ quốc.
Giữa một bên là kỷ luật tư tưởng, một bên là áp lực khích lệ sáng tạo, đồng thời phải "bắt bài" những chiêu trò lách luật bằng chữ nghĩa của những ngòi bút cậy "tài", bản lĩnh của "chốt chặn" biên tập và người đứng đầu tòa soạn, NXB được thể hiện ra sao, thưa ông?
- Đây chính là thời điểm bản lĩnh của nhà văn, nhà báo được thể hiện rõ nhất. Tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội - nơi hội tụ lực lượng sáng tác toàn quốc từ thơ, văn, lý luận phê bình đến các xu hướng học thuật mới, trên cương vị Tổng Biên tập, nếu không có bản lĩnh mà chỉ duyệt in những bài viết tròn trịa, "véo von", vô thưởng vô phạt thì không còn xứng đáng là một tờ tạp chí hàng đầu. Ngược lại, nếu mạnh dạn quá đà, buông lỏng quản lý, chiều theo tư duy lệch chuẩn của một bộ phận nhỏ người viết thì càng không thể chấp nhận.
Người cầm bút không thể dùng chữ nghĩa bí hiểm để đánh đố, sa đà vào chuyện tâm linh, lợi dụng tôn giáo "trốn" vào chữ nghĩa nhằm qua mặt biên tập và độc giả. Trong khi đó, quần chúng nhân dân đang rất cần những tác phẩm có chiều sâu văn hóa - lịch sử, định hướng nhân văn, khơi dậy khát vọng cống hiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những người làm báo, làm văn quân đội chúng tôi có đủ trí tuệ, niềm tin và dũng khí để thẩm định tác phẩm. Bằng chứng là thời gian qua, Văn nghệ Quân đội không để "lọt lưới" bất kỳ bài viết nào vi phạm kỷ luật. Tuy nhiên, chúng tôi tuyệt đối không chủ quan, cũng không vì lo ngại “sóng gió” mà bịt chặt các xu hướng sáng tác hay cách tiếp cận mới.
Có ý kiến cho rằng: “Gốc rễ nông dân cho nhà văn sự mộc mạc, nhưng cũng dễ khiến ngòi bút bị giới hạn trong không gian làng quê nhỏ hẹp”. Là người bước ra từ vùng đồng chiêm trũng xứ Nhãn, gốc rễ ấy là bệ đỡ hay là lực cản đối với ông?
- Tôi sinh ra trong một gia đình đông con. Bố tôi là lính của Sư đoàn 308, sau khi rời chiến trường trở về quê thành đội trưởng thợ cày. Mẹ tôi làm thư ký đội sản xuất thời kỳ hợp tác xã. Ngày ấy, đàn ông trai trẻ ra trận hết, ở quê chỉ còn lại những người phụ nữ vừa tay súng vừa tay cày.
Mới 7 - 8 tuổi, tôi đã đọc thông viết thạo nên thường được các cụ nhà nho trong làng vùng đất cổ Như Quỳnh gọi đến đọc Tam Quốc, Thủy Hử cho nghe. Thậm chí, tôi còn theo mẹ đi cấy công điểm, rồi làm những khoảnh ruộng khoán hộ đầu tiên ở Hưng Yên. Đến năm 13 tuổi, tôi đã cày thành thạo 6 đường, 8 đường; mùa đông cày ải, mùa hè chăn trâu, cắt cỏ. Cả gia đình cùng làm gần 2 mẫu ruộng đồng chiêm cực kỳ vất vả. Nhưng chính sự tôi luyện lao động gian khó từ nhỏ đó là bệ đỡ, giúp tôi nhanh chóng thích nghi khi nhập ngũ tại Sóc Sơn. Ở đơn vị, tôi vừa tăng gia sản xuất, cấy 2 sào ruộng, chăn 3 con bò trong khu kho xưởng, vừa tích cực tham gia các hoạt động phong trào.
Ban ngày, tôi làm báo tường cho đơn vị. Những tờ báo trải rộng bằng chiếc chiếu, tự tay viết xã luận, tự vẽ truyện cười… Đến đêm đi gác, tôi luôn mang theo cuốn sổ nhỏ trong túi áo, viết những truyện ngắn đầu tiên gửi về Văn nghệ Quân đội.
Năm 1994, khi đang học lái xe ở Sơn Tây, tôi nhận giải thưởng văn học “Kỷ niệm sâu sắc đời bộ đội” với truyện ngắn Lính tò te. Nhà văn Khuất Quang Thụy khi đó đã lên tận nơi xin đơn vị cho tôi đi dự Trại sáng tác Đồ Sơn do Văn nghệ Quân đội tổ chức. Giữa các thành viên tham gia trại sáng tác xinh đẹp, lịch thiệp, tôi xuất hiện với vẻ ngoài đen nhẻm của một anh lính cơ sở (cười).
Sau đợt đó, tôi chuyển sang làm ở Truyền hình Quân đội và gắn bó với Tổng cục Chính trị suốt gần 30 năm qua, trước khi được chọn về Tạp chí. Đó là cả một hành trình phấn đấu, trưởng thành của anh binh nhì ngày nào đến Đại tá, Tổng Biên tập hôm nay.
Đại tá Phùng Văn Khai từng làm ở Truyền hình Quân đội và gắn bó với Tổng cục Chính trị suốt gần 30 năm qua, trước khi được chọn về Tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Được học hỏi từ những "cây đa cây đề" như nhà văn Lê Lựu, Hoàng Quốc Hải là lợi thế lớn. Sự chỉ dẫn tận tình và những “bài học nhập môn” từ các vị tiền bối đã khắc sâu trong ký ức của ông như thế nào?
- Tôi trân trọng khi có những người thầy gắn bó khăng khít với mình trong cuộc sống và sự nghiệp. Đầu tiên là nhà văn Lê Lựu - người tỉ mỉ sửa cho tôi từng câu văn trong những ngày đầu. Trang cuối truyện ngắn Nhánh sim rừng gần như do chính nhà văn Lê Lựu viết. Khi tôi thắc mắc, ông dí dỏm bảo: "Đây là Ban biên tập viết đấy nhé!". Sự uốn nắn, chỉ dẫn tận tình của các nhà văn gạo cội dành cho một “lính mới” thời điểm đó chính là điểm tựa lớn cho tôi sau này. Đến khi sang Truyền hình Quân đội, tôi được nhà văn Chi Phan - Trưởng ban Biên tập tận tình chỉ dạy. Những bản tin đầu tay tôi viết trên trang giấy bị ông gạch xóa đỏ rực. Thời đó làm báo hoàn toàn thủ công, tôi tỉ mỉ chép lại từng chữ rõ ràng để phát thanh viên kịp lên sóng.
Đặc biệt, cơ duyên đưa tôi bước vào con đường viết tiểu thuyết lịch sử là nhà văn Hoàng Quốc Hải. Từ thời còn là chiến sĩ gác kho, đọc những bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần, Tám triều vua Lý của ông đã nuôi dưỡng tình yêu văn hóa, lịch sử dân tộc trong tôi.
Về sau, khi tham gia Hội đồng họ Phùng do Trung tướng Phùng Khắc Đăng làm chủ tịch, tôi dành hàng chục năm đi qua khắp các đình, đền, chùa, miếu; tham gia hàng loạt hội thảo khoa học về các danh nhân như Phùng Hưng, Phùng Khắc Khoan, Phùng Tá Chu, Phùng Thanh Hòa... Trong suốt gần 20 năm qua, hầu như tôi không biết đến ngày nghỉ. Bất cứ khi nào các ban quản lý di tích ở miền Bắc phát hiện sắc phong hay tư liệu cổ, họ đều kết nối để tôi tiếp cận. Thành quả là chúng tôi phối hợp với chính quyền và các nhà nghiên cứu làm rõ tư liệu của Lý Nam Đế tại chùa Cổ Pháp (Thái Nguyên), trả lại đúng giá trị lịch sử cho di tích.
Văn hóa, lịch sử cùng những tích xưa nơi đình chùa, miếu mạo là cội nguồn dân tộc, đồng thời là niềm đam mê và nguồn cảm hứng sáng tác tự nhiên trong tôi. Mọi thứ cứ thế ngấm sâu vào máu, nhất là sau biến cố sức khỏe gần đây, tôi tìm về chùa tĩnh dưỡng gần 2 tháng. Chính trong khoảng lặng chốn thiền môn ấy, tôi cho ra đời tập thơ đầu tay Thơ viết cho mình và hoàn thành phần dịch thơ Phùng Khắc Khoan sang thể lục bát.
Luôn đau đáu với lịch sử dân tộc, vậy còn điều gì tồn tại ở lĩnh vực văn hóa - văn nghệ hiện nay khiến ông cảm thấy sốt ruột và trăn trở nhất, thưa ông?
- Điều khiến tôi sốt ruột và trăn trở nhất hiện nay chính là dòng phim về lịch sử dân tộc. Chúng ta đang chứng kiến cảnh khán giả trong nước theo dõi các bộ phim cổ trang, phim lịch sử của nước ngoài.
Nhìn lại điện ảnh nước nhà, từ năm 10 tuổi tôi đã xem bộ phim Đêm hội Long Trì, và đến nay khi đã hơn 50 tuổi, tôi vẫn quay lại xem tác phẩm ấy. Điều đó chứng tỏ điện ảnh Việt Nam hoàn toàn có thể làm nên những tác phẩm lịch sử đi cùng năm tháng, nhưng suốt nhiều thập kỷ qua chúng ta lại chưa làm tiếp được những bộ phim tương xứng. Rõ ràng, chúng ta đang mắc nợ với nhân dân, mắc nợ với lịch sử dân tộc.
Nhìn sang Trung Quốc, thập niên 1990 - 2000, khi các bộ phim kinh điển như Thủy Hử, Tam Quốc diễn nghĩa kỹ thuật điện ảnh của họ còn thô sơ. Đến nay, họ đã biến các tác phẩm đó thành những thương phẩm văn hóa thu về hàng trăm triệu USD. Trong khi chúng ta có chiều sâu văn hóa, có lịch sử dựng nước và giữ nước vô cùng hào hùng, nhân dân Việt Nam lại rất yêu lịch sử. Nếu ngành điện ảnh có sự đầu tư mạnh mẽ, bài bản và đúng hướng, chúng ta hoàn toàn đủ sức tạo ra những tác phẩm tầm vóc để chinh phục khán giả nhà.
Hình ảnh trích từ phim "Đêm hội Long Trì".
Từ góc độ một người sáng tác lẫn phê bình điện ảnh thẳng thắn, theo ông, đâu là lời giải cho bài toán căn cơ, gốc rễ để phim lịch sử Việt thoát khỏi lối làm phim "liền ăn mì" như ông từng cảnh báo?
- Chúng ta bắt buộc phải có những bộ phim lịch sử xứng tầm về các triều đại Việt Nam. Tôi cho rằng, cách thức làm phim lịch sử hiện nay vẫn chưa ổn. Với phim lịch sử, bắt buộc phải là Nhà nước đầu tư mới đạt đến độ chính thống. Nếu để tư nhân hay “tài phiệt” tự bỏ vốn dẫn dắt, phim sẽ lập tức bị uốn nắn theo mục đích thương mại, thỏa mãn cái tôi cá nhân, thậm chí đi mượn phim trường nước ngoài làm mất đi bản sắc Việt. Các nhà làm phim tư nếu thiếu sự bảo trợ chính danh từ Nhà nước, dự án thậm chí không tránh khỏi những rủi ro, đối mặt với nguy cơ phá sản.
Khi Nhà nước “cầm trịch”, chúng ta giải quyết được bài toán chính danh từ địa danh, trang phục đến bối cảnh thực địa. Kỹ thuật, kỹ xảo dù phát triển đến đâu tôi thấy cũng không thể thay thế được cảnh quan thiên nhiên thực tế. Đất nước ta có sông thật, biển thật, cớ sao phải bắt khán giả xem sông biển giả qua màn hình? Những không gian cung đình có thể đưa vào trường quay, còn cảnh trí thiên nhiên bắt buộc phải trả về cho thực địa.
Thực trạng hiện nay phản ánh tâm lý "ham ngọn, bỏ gốc", thấy dự án giải trí dễ sinh lời là lao vào, quên mất rằng phim lịch sử phải có hội đồng chuyên gia giỏi về lịch sử, thổ nhưỡng, phong thủy, lễ nghi triều chính... Lịch sử phải phục vụ dân tộc, không thể phục vụ tính giải trí thuần túy của một nhóm sản xuất.
Trở lại với văn học, ông từng giành Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội cho tập “Văn học Việt Nam từ dấu mốc Đổi mới 1986 - chuyển động, thành tựu và bản sắc”, năm 2024. Theo ông, những nhân vật kinh điển ở từ làng quê nông thôn như lão Quềnh hay Giang Minh Sài trong tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường, Lê Lựu có còn tồn tại trong đời sống hôm nay hay đã biến thiên theo năm tháng?
- Thời đại nào thì sinh ra con người đó. Chúng ta từng có những mẫu hình anh hùng thời đại làm nức lòng nhân dân như Nguyễn Viết Xuân, La Văn Cầu... Họ bước từ chiến trường khốc liệt vào văn học với tất cả sự tự hào và kiêu hãnh.
Nhưng quy luật của văn học nghệ thuật rất đặc biệt. Bên cạnh người anh hùng, văn học còn đúc kết và lưu giữ những "mẫu số chung" của tâm lý, tính cách và đời sống xã hội qua từng thời kỳ. Dân gian có Thị Mầu, Thằng Bờm; văn học hiện đại có Chí Phèo, Xuân Tóc Đỏ; rồi sau này có Chu Văn Quềnh, Giang Minh Sài, Trịnh Bá Thủ...
Dù thời gian trôi qua, nhưng những “mẫu số chung” này không hề mất đi. Ngay cả trong các cơ quan, tổ chức hay đời sống xã hội hiện đại hôm nay, những “Chí Phèo”, “Xuân Tóc Đỏ” hay “Giang Minh Sài” khù khờ vẫn tồn tại, chỉ là khoác lên mình những tấm áo mới phù hợp với thời đại mới. Đó chính là sự tương tác hai chiều bền bỉ: Cuộc sống bước vào văn học, tiểu thuyết để cô đọng thành điển hình nghệ thuật, và những hình mẫu ấy lại bước ra đời sống để giúp chúng ta nhận diện chính mình.
Trong bối cảnh hiện nay, vai trò phản biện và dấn thân của các nhà văn trước những vấn đề thời sự nóng hổi, nhức nhối cần được thể hiện ra sao, thưa ông?
- Văn học sinh ra tuyệt đối không phải để ru ngủ hay tô hồng, chiều chuộng. Văn học phải là tiếng chuông cảnh tỉnh, và tính phản biện xã hội chính là đặc tính sâu sắc, trung thực nhất của nghệ thuật.
Nhìn lại tác phẩm như Sóng ở đáy sông của Lê Lựu, ta thấy bức tranh một thời kỳ đầy biến động, nơi người chiến sĩ công an phải vất vả dấn thân, đấu tranh với cái xấu để níu giữ mầm thiện. Ngày nay, xã hội xoay chuyển, thách thức mới xuất hiện tinh vi hơn: từ nạn "anh hùng bàn phím", hàng giả, thực phẩm bẩn đến ô nhiễm môi trường... Đời sống nhân dân đang hàng ngày đối mặt với những nhức nhối thực tế đó. Nếu người cầm bút cứ mải mê dồn sức vào những cãi cọ, lùm xùm vô bổ trên mạng mà quay lưng với hơi thở đời sống của nhân dân, thì đó hoàn toàn là lỗi của nhà văn.
Mổ xẻ cái xấu là để "xây", để cảnh tỉnh và thanh lọc xã hội, tuyệt đối không phải để “bôi đen”. Đất nước với hàng trăm triệu dân đang đường hoàng đi lên, đời sống nhân dân ngày càng ấm no. Nếu chỉ nhìn toàn màu đen là đã bóp méo thực tế. Nhà văn phải chấp nhận mạo hiểm và có bản lĩnh sáng tạo. Tôi tin Đảng và Nhà nước luôn cởi mở với những tác phẩm có giá trị nghệ thuật đích thực, dám chỉ mặt đặt tên tiêu cực để giúp xã hội trưởng thành, đất nước phát triển hơn.
Những tác phẩm của nhà văn Phùng Văn Khai.
Dịp Quốc khánh 2/9 năm nay càng trở nên ý nghĩa hơn khi “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đang được triển khai, cảm xúc của một “người lính văn nghệ” như ông thế nào?
- Tôi và bạn đang ngồi trò chuyện trong ngôi nhà có phòng làm việc của nhà văn, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Thi (1928-1968) - tác giả của tác phẩm nổi tiếng “Người mẹ cầm súng”, người khắc họa hình tượng chị Út Tịch.
Đến hiện tại, chúng tôi vẫn đang cử người phối hợp trực ở khu vực công viên Lê Thị Riêng (TP.HCM) để tìm kiếm hài cốt của nhà văn Nguyễn Thi hy sinh tại trận chiến đấu cầu Chữ Y năm 1968, mà đến tận thời điểm này vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Khi làm hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT cho nhà văn, liệt sĩ Nguyễn Thi, chúng tôi gần như vừa làm vừa khóc. Gia đình bà Xuân - vợ nhà văn Nguyễn Thị đã nhiều lần hỏi tôi: "Phùng Văn Khai ơi, tìm được hài cốt ông Tấn chưa?". Cách đây gần 60 năm rồi, đến bây giờ người vợ ấy vẫn đau đớn chờ đợi hài cốt chồng.
Nhìn rộng ra, "Chiến dịch 500 ngày đêm" là trách nhiệm thiêng liêng của cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với những người đã hy sinh vì đất nước và mỗi người chúng ta thêm trân trọng, biết ơn cái giá của độc lập, tự do. Gần 200.000 hài cốt chưa quy tập hết, hơn 300.000 hài cốt chưa thể định danh. Năm 2024, khi đến Điện Biên, đứng trước gần 4.000 ngôi mộ khuyết danh ở 3 nghĩa trang, tôi thắt lòng. Những người hy sinh cho Tổ quốc phần lớn là vô danh, và chính máu xương họ đã làm nên dáng hình Tổ quốc hôm nay.
Xin cảm ơn Đại tá, nhà văn Phùng Văn Khai về cuộc trò chuyện!