(Thứ sáu, 17/04/2026, 10:12 GMT+7)
Tây Bắc, nơi núi đèo tiếp giáp bầu trời bằng những cụm hoa mây trắng muốt là quê tôi. Quê tôi đẹp không chỉ ở cảnh sắc thiên nhiên mà còn vì ấm áp hồn người, hồn núi.
 
Thung lũng rộng dài, vòng tay thân ái, đoàn kết của anh em các dân tộc kết thành cái nôi lưu giữ bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú. Cứ sau mỗi dịp Tết là nô nức ngày hội của bản, của mường với dập dờn váy xòe từ những đường chỉ thêu tinh tế của những cô gái khéo léo miền rừng; với ngân xa tiếng hát đối, réo rắt điệu khèn môi. Ngay trong từng hành động, từng lời người già nói, từng câu chuyện cổ tích, từng chi tiết trong ngày đám ma, đám hỏi… của người vùng cao đều chứa đựng nét đẹp văn hóa dân tộc. Vẫn còn đó màu thổ cẩm trên sắc áo em gái Hà Nhì, chiếc váy xúng xính theo nhịp bước của cô gái Mông ngày xuống chợ tìm bạn tình. Vẫn còn đó những mẹ, những chị dạy con, cháu thêu tấm áo, chiếc khăn. Vẫn nghe đâu đây điệu kèn Pí Kẻo của dân tộc Pú Nả trong dịp lễ tết. Vẫn tiếng khèn lá dịu dàng, trầm bổng vượt núi băng non, làm xuyến xao lòng chàng trai Mông múa khèn dưới góc chợ. Và những lễ hội mừng cơm mới, Then Pin Pang, Kin Khẩu Lẩu Mẩu, lễ Cấp sắc của các dân tộc: Dao, Thái, Giáy… cứ đến tháng, đến năm lại diễn ra trong tiếng sáo, tiếng trống rộn rã thúc giục mọi người ở bản xa, bản gần đến chung vui. Tết đến, khắp các nhà vẫn vang lên tiếng giã bánh giày, lọc tro làm bánh chưng đen, nhào bột làm bánh nếp, bánh mật, bánh khảo… loại bánh nào cũng đòi hỏi sự kì công, tỉ mẩn của người làm. Làm để cúng bái tổ tiên, để khấn rằng năm nay trời mưa thuận gió hòa, hạt thóc căng mẩy được làm thành chiếc bánh ngon mời ông bà thưởng thức. Làm để mang tặng hàng xóm xa gần, chiếc bánh ngọt như tấm lòng thơm thảo, chân chất của người miền núi…
 
Yêu biết mấy quê tôi, bên những dòng suối vẫn vọng tiếng hát đối đáp của các đôi bạn tình, lời ca dịu dàng của cô gái vọng vào vách đá rồi tha thiết trở về trong tiếng hát trầm khàn của chàng trai, hát rằng: “Em ơi… anh mơ được hạt thóc giống đẹp như em đi gieo trồng trên ruộng. Nếu anh có em, đến chỗ thấp anh sẽ dắt tay, lên núi cao anh sẽ bước chờ. Em ơi… anh muốn đưa em về đến cầu thang nhà anh.”
 
Những bản xa tít tắp, đêm đông, ông bà, cháu chắt ngồi quây quần bên ngọn lửa hồng, những cụ ông, cụ bà móm mém vẫn rì rầm kể cho con, cháu nghe chuyện cổ của dân tộc mình. Chuyện về những vật dụng trong nhà: con dao, cái cuốc; chuyện các anh hùng của làng bản xưa kia chống tạo, phìa (quan gian ác). Những câu chuyện truyền miệng khảm sâu trí nhớ mỗi người trong cộng đồng dân tộc.
 
Nhà thơ Phùng Hải Yến
 
Văn hóa dân tộc thể hiện từ lời nói, cách sống đến sự chăm chỉ, cần cù lao động trên nương, ngoài rẫy, tồn tại cả ở không gian phi vật thể. Ấy là không gian có những mái nhà sàn, rặng tre nằm bên dòng Nậm So huyền thoại. Ấy là không gian với những mái nhà trình tường và dòng Hoàng Hồ thơ mộng. Là không gian ngai ngái mùi lúa chín, mùi ruộng đất, mùi khói bếp lan khắp đồng... là không gian miền rừng thơ mộng với những loài hoa, loài cây xứ núi bốn mùa cho hoa thơm quả ngọt. Nền văn hóa bản địa ấy được truyền tụng, nhắc nhớ đến ngàn sau. Và gắn với nó là những cái tên thân thuộc, những con người bình dị vùng cao, yêu đất, yêu người, yêu nền văn hóa đa sắc và gắng hết sức mình để giữ gìn, lưu truyền những gì mình biết. Đó là nghệ nhân đàn tính đêm ngày sưu tập thêm những bài đàn từ những người cao tuổi để làm phong phú, đa dạng tiếng đàn của dân tộc mình hơn. Là người ghi chép lại truyện cổ tích, chữ viết, các phong tục, bài hát dân ca trong đám cưới, đám tang của dân tộc để con cháu đừng quên cội nguồn, gốc gác dân tộc. Những cây đa, cây đề ấy không chỉ có ý thức trong gìn giữ nét đẹp của dân tộc, họ còn đêm ngày truyền dạy cho con, cháu để những tinh hoa dân tộc không bị phai nhạt theo thời gian mà được lưu giữ mãi từ đời này sang đời khác. Tôi cảm nhận được nét độc đáo ấy qua “then” hiểu được quan niệm về thế giới khác, về hồn phách của đời sống tâm linh dân tộc Thái. về tục ăn cơm mới mà rất nhiều dân tộc đều có, hay đơn giản chỉ là bộ xà tích, chiếc khăn piêu trên trang phục người thiếu nữ…
 
Tiếc thay, vì là đặc thù nên vốn văn hóa dân gian riêng trở nên hiếm, không dễ dàng thấy trên các sân khấu lớn. Và cũng chính vì hiếm, quý, nên sự mai một trở nên đương nhiên. Người biết đến đã ít. Người thưởng thức đã hiếm. Và ai là người lưu truyền lại càng khó, nhất là đối với các dân tộc có số dân dưới 10.000 người.
 
Tôi từng đọc ở đâu đó, “một người già chết đi, chúng ta như đã chôn một thư viện quốc gia”. Ở quê tôi, những cụ ông, cụ bà móm mém, mắt hằn vệt chân chim tuy không biết tiếng phổ thông nhưng có thể kể chuyện cổ tích ròng rã qua một tuần không hết, có thể hát những làn điệu cũ của dân tộc mình qua từng đêm dài bên bập bùng bếp lửa đã dần dìu nhau ra đi, để lại nỗi buồn sâu thẳm bởi lớp trẻ không còn mấy người học và biết tiếng dân tộc mình, để đi đến, để ghi chép, lưu giữ những hạt ngọc từng lung linh trong đời sống tinh thần cha ông. Khi được trao truyền các làn điệu dân ca, dân vũ, nhạc cụ truyền thống, họ không mấy mặn mà. Cũng vì thời buổi hội nhập rồi, nhịp sống nhanh hơn, con cháu đi học xa, bận rộn nên nhiều vấn đề liên quan đến đời sống, truyền thống ở quê hương có lúc, có nơi bị xem là lạc điệu. Va chạm văn hóa giữa truyền thống - hiện đại, tư tưởng cũ - mới trở thành vách ngăn thế hệ và đau đáu câu hỏi rằng: Nên làm như thế nào để tác động đến thẳm sâu tâm thức thế hệ trẻ, để chúng thực sự cảm thấy yêu mến, cần thiết bảo tồn văn hóa dân tộc mình? Bảo tồn bằng cách nào khi ở thời buổi người ta nhắn tin lời yêu thương cho nhau qua điện thoại, email, và Tết năm này, năm kia, nhiều năm trước, trên bàn thờ tổ tiên đã có thêm bánh mứt kẹo mua được từ dưới chợ?
 
Hiện tại có thể thấy rõ số lượng nhà nghiên cứu văn nghệ dân gian ở miền núi không nhiều. Họ mệt mỏi, bởi để nghiên cứu một nền văn hóa cần hi sinh cả về thời gian, tâm huyết và cả chi phí, mà ngoài các nội dung có đề án, được hỗ trợ thì hầu như đây là hoạt động tự thân. Dù có tâm huyết bảo tồn di sản văn hóa các dân tộc, họ cũng đành ngậm ngùi trước các rào cản về ngôn ngữ, đâu phải lúc nào cũng tìm được các cụ cao niên, tìm được người dịch. Nếu là nghệ nhân của địa phương, việc làm này có vẻ dễ dàng hơn bởi họ sống trong cộng đồng, có tình yêu, sự lo lắng mất mát dẫn đến hành động bảo tồn, thế nhưng, họ đã dần ra đi, như các mạch suối dần cạn!
 
Các ngày hội, hiện tại đã dành nhiều khoảng thời gian hơn cho phần trình diễn văn hóa các dân tộc, cho các bài dân ca, dân vũ truyền thống, nhưng đó cũng chỉ là một sự níu kéo yếu ớt! Vẫn cần một sự đầu tư đầy đủ để thành lập các lớp, các trung tâm, câu lạc bộ bảo tồn từ chữ viết dân tộc Thái, Mông; trao truyền, hướng dẫn hát then, đàn tính; bảo tồn dân ca, dân vũ Lào, Lự... để văn hóa vùng cao được “nhen lửa” “thắp lửa”, qua nhiều thế hệ.
 
Và chỉ khi thế hệ con, cháu cùng hòa nhịp thì nỗi lo mai một văn hóa mới không còn hiện hữu.
 
Nhà thơ PHÙNG HẢI YẾN / BÁO VĂN NGHỆ