Tiến sĩ Phùng Thảo
Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phùng Việt Nam
Tiến sĩ Phùng Thảo
Họ Phùng xã Nam Cường, xã Phú Thành,
phường Nghi Thu,tỉnh Nghệ An.
(Biên tập theo tài liệu cuộc Tọa đàm về họ Phùng Nghệ An
Tại thị xã Cửa Lò ngày 27 tháng 12 năm 2020 )
Theo gia phả ở thôn Xuân Trạch, xã Hạ Khê, tổng Phù Long, nay là xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An được lập dưới triều Lê do Thượng tướng Quận công Phùng Viết Đán chủ biên, Thủy Bình ấp, Hương công (cử nhân) Phùng Văn Bút, Hương công Phùng Viết Giai, Tam trường (phó bảng) Huấn đạo Quốc Tử Giám Phùng Thời Tá biên soạn. Gia phả ghi: Cảnh Hưng tứ thấp ngũ niên, Giáp Thìn, thu tiết cốc đán (có nghĩa là, gia phả được lập vào ngày tốt, mùa thu, năm Giáp Thìn 1784, dưới triều Lê cảnh Hưng). Lời nói đầu ghi, họ Phùng đã trên 400 năm không có gia phả, nghĩa là họ Phùng Nghệ An đến năm 1784 đã trên 400 năm không có gia phả. Trong gia phả có ghi các vị viễn tổ dòng họ như sau:
Thái phó Phùng Tá Chu, quê huyện Hưng Hòa, tỉnh Thái Bình. Ông là Thái phó triều Lý, giúp nhà Trần lập nghiệp thuở ban đầu. Được vua Trần cử làm Tổng trấn Nghệ An, cho quyền hoạch định các ấp lớn ở Nghệ An, cử người giữ chức xá nhân trở xuống, rồi về tâu sau, sau đó làm nhập nội Thái phó, xây dựng cung điện nhà Trần ở Tức Mặc Nam Định và 5 sở Hành cung ở Thanh Hóa, ông được vua Trần phong Hưng Nhân Đại vương khi còn sống, đây là việc làm độc nhất vô nhị với người ngoại thích họ Trần. Ông mất năm 1241. Ông là người đặt nền móng dòng họ Phùng ở tỉnh Nghệ An.
Phùng Sĩ Chu là người có công giúp nhà Trần chống quân Mông Nguyên thắng lợi, làm quan đến chức Hành khiển, sau lên đến Thiếu Phó.
Phùng Quang Lộc là người tham gia nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi từ những ngày đầu cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh xâm lược. Sau thắng lợi, vua Lê Thái Tổ ban thưởng Tứ kim phù (Huân chương vàng), phong tước Dĩ Quận công, là vị khai quốc công thần thời Lê.
Phùng Khắc Khoan vào Thanh Hóa theo nhà Lê, do bất hòa được đưa vào Thành Nam.
Các vị thần tổ đời thứ hai: Phùng Bá Ngợi (tự Quang Đạt) là con trai trưởng Phùng Bá Nghị, được phong Tán trị Công thần, đặc tiến Thượng tướng quân y vệ đô chỉ huy sứ. ông có con trai là Phùng Bá Giàu.
Phùng Viết Đán (tự Phùng Thiêm), ông được phong Thiếu bảo, Lễ Quận công, Thượng tướng quân trung quân, đô đốc phủ đô đốc đồng tri.
Phùng Quang Trạch, ông có con trai Phùng Bá Án đến sinh cơ lập nghiệp ở vùng Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Phùng Bá Giàu, ông giữ chức Trung Lang tướng bộ binh, được vua Lê Thần Tông và Chúa Trịnh Tùng giao quyền khảo sát đất hoang hóa dọc sông biển Nghệ An, huy động, tổ chức dân, binh khai đất hoang, lập trang ấp, phát triển kinh tế chấn hưng đất nước. Đầu thế kỷ 17, Phùng Bá Giàu đưa dân, binh đến vùng Thu Lũng lập trại khai đất hoang, tổ chức phát triển kinh tế.Giữa thế kỷ 17 thôn Thu Lũng được thành lập, hình thành họ Phùng Nghi Thu ngày nay. Tiền thủ hiệp, Lệnh công Phùng Phúc Thiện (húy Phùng bá cái) là khởi tổ dòng họ Phùng Nghi Thu ngày nay.Từ đây con cháu họ Phùng di cư đến Khánh Duệ, Hoa Duệ, Long Tráo (Nghi Thành), Yên Lương, Mai Bảng (Nghi Thủy), Hưng Tây, Hưng Nguyên khai khẩn lập nghiệp hình thành dòng họ Phùng ở các địa phương. Gia phả họ Phùng ở Yên Lương có ghi: “từ Thu Long đến Khánh Duệ, Hoa Duệ, Yên Nội đến Yên Lương”.
Tiếp tục sự nghiệp khai khẩn kinh tế, Phùng Bá Giàu đưa dân, binh đến vùng đất Tổng Vạn phần, phủ Diễn Châu lập trang Phùng, trang Đót. Vì vậy, nhân dân gọi sông Bùng, Đò Bùng, cầu Bùng. Tổ chức khai khẩn vùng đất Kim Khê thuộc tổng Kim Nguyên, giao cho con cháu họ Đinh (họ ngoại) ở Thu Lũng đến ở. Tổ chức khai khẩn vùng đất huyện Đức Thọ, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh để con cháu Phùng Phúc Trạch đến sinh sống.
Phùng Viết Đạm, Con thứ hai Phùng Bá Nghị là Thượng tướng quân, đô đốc, Lễ quận công. Do có công lớn dẹp nhà Mạc tại Hinh Lễ Cao Bằng được Triệu Hữu Đào tướng nhà Minh cứu viện, đánh tan quân Minh, bắt sống Triệu Hữu Đào, được vua Lê phong cấp 60 mẫu 8 sào ruộng đất hương hóa ở xã Hương Cầm, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Khi ngài hóa, lăng mộ táng gần từ đường dòng họ Phùng ở thôn Xuân Trạch, xã Hạ Khê (xã Nam Cường, Nam huyện Đàn) tỉnh Nghệ An.
- Con trai thứ ba Phùng Quang Trạch sinh sông và lập nghiệp tại huyện Đức Thọ và huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh.
Như vậy, Người đặt nền móng hình thành họ Phùng ở Nghệ An là Thái phó lưỡng triều Phùng Tá Chu. Thí tổ họ Phùng ở Nghệ An là Thượng tướng đông Quận Công Thái Báo Phùng bá Nghị. Đền thờ thí tổ Phùng Bá Nghị, Thí tổ Phùng Bá Ngự ở thôn Xuân Trạch xã Hà Khê tổng Phù Long nay là xã Nam Cường, huyện Nam Đàn là đền thờ tổ ở Nghệ An. Những chi họ Phùng ở các địa phương có nguồn gốc xuất xứ tại thôn Xuân Trạch, xã Hà Khê gồm các chi họ Phường Nghi Thu, họ Phùng Khánh duệ, Long Tráo (xã Nghi Khánh - Khánh Hợp), Yên Lương, Mai Bảng (phường Nghi Thủy), Nghi Tân, Phú Thành, Yên Thành, Thiêm Lộc (phường Nghi Hương), Xuân Đình, Nghi Thạch, Nghi Phong, Nghi Ân (Hà Tĩnh).
Các chi họ Phùng ở Đô Lương, Diễn Kỷ Diễn Châu, Thanh Chương, Nghi Tịnh, Nghi Xá Nghi Lộc chưa có tư liệu để kết nối, và xác định nguồn gốc xuất xứ.
Các đền thờ lăng mộ các vị thần tổ ở xã Nam Cường, huyện Nam Đàn; phường Nghi Thu, thị xã cửa Lò; xã Phú Thành, huyện Yên Thành đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh.
Chi họ Phùng ở Nam Cường, Nam Đàn (nay là xã Trung Phúc Cường)
Đền thờ các vị thần tổ họ ở đây gọi là đền cả được vua Lê Dụ Tông ban sắc (ngày 12 tháng 10 năm 1709) sắc mệnh miếu thờ các vị thần tổ họ Phùng ở thôn Nhân Trạch xã Hạ Khê, truy phong thượng đẳng đại vương phúc thần. Ban 110 mẫu 8 sào ruộng hương hỏa để con cháu dòng họ và nhân dân quanh năm hương khói thờ phụng. Đền được xây năm 1711 gồm 3 tòa: Thượng điện, trung điện, và hạ điện. Đền làm bằng gỗ, do thiên tai bão lũ đã hỏng một tòa, hiện nay còn tòa thượng điện và hạ điện. Thượng điện long ngai tế khí thờ các vị Thái Thị Tổ, hàng dưới còn 7 vị thần làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng khắc bằng văn Hán. Các vị thần được thờ tại đền như sau:
Các vị Thị tổ là Phùng Tá Chu, Phùng Sĩ Chu, Phùng Quang Lộc, Phùng Khắc Khoan.
Các vị thần tổ có thần vị và lăng mộ tại đền: Phùng Bá Ngự, Phùng Bá Nghị, Phùng Quang Đạt, Phùng Viết Đạm, Phùng Quang Trạch, Phùng Bá Giàu, Phùng Viết Đán, Phùng Bá Quyền, Phùng Bá Dai, Phùng Bá Tố, Phùng Chân Tính, Phùng Viết Nho, Phùng Viết Tào.
Chi họ Phùng ở phường Nghi Thu, thị xã Cửa Lò
Theo gia phả họ Phùng ở phường Nghi Thu, họ Phùng ở đây có gốc ở Hạ Khê.
Phùng Bá Giàu là cháu đích tôn Phùng Bá Nghị và bà Đặng Thị Ngọc Phương, là con của Phùng Bá Ngợi. Đầu thế kỷ 17, Trung lang tướng Phùng Bá Giàu cùng Hoàng Khốn được vua Lê và chúa Trịnh Tùng giao khảo sát vùng Duyên Hải dọc sông biển Nghệ An, huy động dân binh đến khai khẩn vùng đất hoang hóa, lập trang ấp, phát triển kinh tế, chấn hưng đất nước sau cuộc chiến tranh giữa Trịnh - Mạc kéo dài từ 1527 đến 1592 làm cho đất nước kiệt quệ, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Sau khi tổ chức khai khẩn lập thôn Thu Lũng, Phùng Bá Giàu tiếp tục đưa dân binh đến khai khẩn các vùng đất Vạn Phần, Diễn Châu, Kim Khê Nghi Lộc Nghệ An, Hưng Nguyên, Nghi Xuân Hà Tĩnh. Kể từ ngày Phùng Bá Giàu tổ chức khai khẩn lập thôn Thu Lũng đến nay đã được hơn 400 năm, dòng họ sinh ra 19 đời, 8 chi, 220 hộ, 485 đinh. Trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử, họ Phùng ở phường Nghi Thu đã cùng các dòng họ đóng góp công sức, máu xương xây dựng và bảo vệ quê hương Nghi Thu, bảo vệ độc lập tự do, thống nhất đất nước. Trong hai cuộc kháng chiến đánh Pháp và Mỹ xâm lược, dòng họ có 17 liệt sỹ, 13 thương binh, 29 là sĩ quan QĐND Việt Nam, cấp cao nhất là thiếu tướng Phùng bá Thường, 43 người là lãnh đạo các cấp Đảng, nhà nước, cao nhất là thứ trưởng Bộ Lao động thương binh xã hội Phùng Ngọc Hùng, 57 người có trình độ đại học trở lên, trong đó có 3 PGS Tiến sỹ, 5 người hoạt động trong doanh nghiệp, cao nhất là Phó tổng giám đốc tập đoàn.
Tóm lại, Họ Phùng ở phường Nghi Thu có nguồn gốc từ thôn Xuân Trạch, xã Hạ Khê, tổng Phù Long, nay là xã Nam Cường, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chi họ Phùng ở xã Phú Thành, huyện Yên Thành.
Họ Phùng từ mạn Bắc vào xứ Nghệ từ thế kỷ XVI, tổ tiên đầu tiên của họ Phùng xứ Nghệ là Phùng Bá Ngự và Phùng Bá Nghị định cư tại thôn Xuân Trạch, xã Hạ Khê, tổng Phù Long, huyện Hưng Nguyên, trấn Nghệ An. Phần mộ của hai cụ an táng tại núi Hoành Sơn xã Nam Thịnh, Nam Đàn, mộ hướng về Sa Nam Đức Thọ Hà Tĩnh. Vào khoảng năm 1668 đời vua Nhân Tông, cụ Phùng Cảnh Sức đã đến định cư tại Trang Đót, xã Phú Thành, huyện Yên Thành, miền quê trù phú, đất đai phí nhiêu mầu mỡ. Họ Phùng ở Phú Thành kể từ khi cụ Phùng Công Sức di cư từ Nghi Thu qua Hạnh Lâm, Diễn Châu, đến Trang Đót, Yên Thành định cư trên 400 năm, gồm 18 đời, con cháu sinh sôi thành 17 chi, phái. Trong dòng họ ngoài Cụ Phùng công Sức là người có công đầu lập họ, lập làng Phú Thành được triều đình đương thời phong tặng sắc, dân làng tôn làm thần phụng thờ hương khói quanh năm, kế đến là cụ Phùng Như Bích, cụ giữ chức Đồng tri phủ trà lân các huyện Đô Lương, Con Cuông, Tương Dương Nghệ An, được phối thờ tại đền cả, trên núi Mộng Sơn cùng thành hoàng Phùng Công Sức. Phùng văn Thanh, từ nhỏ được học hành, rèn luyện tinh thông cả võ lẫn văn. Đầu năm 1788, Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh xâm chiếm nước ta, ngày 22 tháng 8 năm 1788, Hoàng đế Quang Trung tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh, Quang Trung đã dừng chân tại Nghệ An để tuyển thêm quân sỹ, Phùng văn Thanh đã hăng hái đầu quân ứng nghĩa phò vua đánh giặc giữ nước. Quang Trung biết Phùng Quang Thanh là con một gia đình, dòng họ có nhiều tướng giỏi trong các triều vua trước, lại thấy tài năng, tố chất chỉ huy của ông nên đã tin dùng đồng thời nhận thêm số quân của Phùng Văn Thanh đem theo và cử ông giữ chức Đô chỉ huy sứ, ông được giao nhiệm vụ dẫn một đạo quân tấn công chính diện, thực hiện trận quyết chiến chiến lược tiến thẳng vào kinh thành Thăng Long. Trước sức mạnh như vũ bão của quân Tây Sơn, 29 vạn quân Thanh cùng tướng Tôn Sĩ Nghị, Sầm Nghi Đống lần lượt bị tiêu diệt. Đô chỉ huy sứ Phùng Văn Thanh chiến đấu dũng cảm anh dũng hy sinh. Để tưởng nhớ và ghi công ông, Quang Trung đã đưa thi hài ông về an táng tại quê hương ông, nay là xóm Thanh Sơn, làng Thanh Đạt, xã Phú Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ngày nay trên quê hương Phú Thành con cháu ông đã có 04 chi, 348 hộ, 553 đinh, 1218 khẩu, 01 mẹ Viêt Nam anh hùng Phạm Thị Bốn, hai tiến sỹ, 16 sĩ quan từ cấp úy đến cấp tá, số hộ hưởng lương 53 bằng 85 người, cán bộ tiền khởi nghĩa 01 người, liệt sĩ chống Pháp và chống Mỹ 22 người, làm Bí thư, Chủ tịch cấp xã qua các thời kỳ 14 người, 100% các gia đình trong dòng họ được nhà nước tặng huân, huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước từ hạng ba đến hạng nhất, 100% các gia đình trong dòng họ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Công tác khuyến học, khuyến tài 11 năm (2000 - 2011): Dòng họ đã thưởng cho 1320 em đạt thành tích trong học tập với số tiền thưởng 93.500.000đ, trong 20 năm qua đã vinh danh 05 cá nhân có công với dòng họ về tinh thần và vật chất. Từ năm 2009 đến năm 2020, dòng họ liên tục được UBND huyện, UBND xã, UBMT Tổ quốc Việt Nam xã tặng bằng khen, giấy khen với các danh hiệu: Dòng họ tiêu biểu, dòng họ hiếu học, dòng họ làm tốt công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, dòng họ không có người vi phạm pháp luật, không có tệ nạn ma túy và các tệ nạn khác. Từ 2016 đến 2020, con cháu họ đã công đức 2 tỷ 300 triệu đồng để xây dựng 500m2 mộ tổ, xây đền cụ tổ Phùng Công Sức, xây khu lăng mộ của Đô chỉ huy sứ Phùng Văn Thanh. Đền thờ dòng họ được nhà nước cấp Bằng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh.
Họ Phùng làng Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh
(biên tập theo tài liệu của GS.TS Phùng Hồ đại diện dòng họ)
Họ Phùng ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ ngày nay không đông lắm, phân bố chủ yếu ở hai bên bờ sông La và hữu ngạn sông Cả, sông Lam. Trong sách Đức Thọ đất và người có đoạn viết phổ ký một số dòng họ ở Tường Xá (nay là xã Đức Châu) có chép: ”Khoảng giữa thế kỷ 13 - 14 đời Trần, trong số 6 gia đình từ ngoài Bắc vào lập nghiệp ở vùng đất bãi bồ mé sông Lam dưới Lam Thành có một nhà họ Phùng. Hiện ở đền Tường xá thuộc xã Đức Châu có thờ Hữu Phú Trung Cần Hầu Phùng tướng công làm thành hoàng. Đền thờ Tứ Phi tại thôn Diên Phúc (Đức Châu) có thờ bà Phùng Thị Thục Giang, con gái Phùng Văn Đạt”.
Họ Phùng Bùi Xá thờ cụ tổ là Phùng Công Thạc, gia phả dòng họ ghi cụ Thạc là Quốc tử giám Giám sinh, Thái học sinh đã đỗ kỳ thi Hội năm Nhâm Thìn (1232). đời Trần Thái Tông, được xem tương đương học vị tiến sỹ.
Trong cuốn Lược sử các tác gia Việt Nam có một mục nói đến tác gia Phùng Thạc (thế kỷ 16) là người làng La Giang (huyện La Giang, sau đổi huyện La Sơn). Phùng Thạc tự Hoành Phủ hiệu là Phúc Trai, giữ chức Chủ bạ Kiến Vương Tân.
Tôi nghĩ rằng, cụ tổ Phùng Thạc là cụ tổ họ Phùng Ở Bùi Xá có thể là hậu duệ của nhà họ Phùng đầu tiên đến vùng đất này. Vì vậy, tôi và ông Phùng Duy Oánh, người cùng nhánh Ba, chi Ba họ Phùng Bùi Xá đã làm một cuộc sơ khảo một số xã xung quanh Bùi Xá. Kết quả khảo sát như sau:
- Các xã Đức La, Đức Phúc, Đức Tùng, Đức Châu hiện không có nhà thờ họ Phùng, người họ Phùng ở các xã này còn rất ít, họ bỏ quê hương năm nào cũng ngập lụt đi làm ăn hoặc theo con cái định cư ở nơi khác.
- Hai xã Đức Quang và Đức Vịnh ở gần nhau có nhà thờ nhỏ với số đinh không đông. Ở xã Đức Quang có một nhà thờ họ Phùng tại thôn 1, xưa là làng Nam Ngạn, nhà thờ nhỏ nhưng khá cổ kính, số đinh khoảng 50, số khá đông di dân lên miền ngược thuộc hai huyện Hương Khê và Vũ Quang vào những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ 20. Rất tiếc là họ không còn giữ được gia phả và chúng tôi cũng không biết cụ tổ được thờ ở đây danh tính thế nào. Ở xã Đức Vinh có một nhà thờ nhỏ, số đinh khoảng 90, cụ tộc trưởng là Phùng Khắc Tự 88 tuổi cho biết, họ không còn giữ được gia phả chỉ biết cụ tổ Phùng Văn Úy.
- Xã Đức Châu có người họ Phùng nhưng không đông, không còn có nhà thờ và đã chuyển đi làm ăn sinh sống ở nơi khác, ở xã này có đền làng Tường Xá thờ Thành hoàng Hữu Phú Trung Cần Hầu Phùng tướng công, không biết tên ngài là gì. Chúng tôi chưa tiếp cận được với văn bản tư liệu về ngài.
- Ở xã Đức Tùng không còn người họ Phùng nữa.
- Xã Đức Yên nằm trong đê La Giang có người họ Phùng, nhưng chúng tôi chưa khảo sát được.
- Các xã thuộc huyện Nam Đàn Nghệ An (bên cạnh xã Đức Châu) như: Nam Kim, Nam Cường chắc chắn có người họ Phùng.
Với kết quả khảo sát ở các địa danh đã có, thì họ Phùng ở Bùi Xá là đông nhất. Tôi cho rằng, sau khi đắp đê La Giang (1034), những xã ở ngoài đê trong vùng lụt của sông La và sông Cả mà xa đê thì mùa lũ nước dâng cao, điều kiện sinh sống khó khăn nên các cư dân trong đó có người họ Phùng phải di dời đến nơi khác, nhà thờ bị đổ nát không khôi phục được. Vì vậy, xã Đức Châu cái nôi của họ Phùng ở vùng này gần như không còn người họ Phùng nữa. Xã Bùi Xá tuy ở ngoài đê La Giang nhưng nằm sát đê, dân có nghề chính, nghề phụ ổn định nên duy trì phát triển không bị mai một hoặc suy kém đi như ở các xã khác.
Trong lần khảo này, chúng tôi đã đến đền thờ tướng công Trần Duy và Tứ phi Hoàng hậu. Đọc hai văn văn bia ở đền, chúng tôi thấy có thông tin liên quan đến các bậc tiền bối họ Phùng. Ở Đức Châu trước đây có hai ngôi đền lớn thờ tướng công Trần Duy và Tứ Phi hoàng hậu. Cách đây vài chục năm, đền thờ Tứ Phi gần bờ sông bị lở, đổ nát, nên con cháu họ Trần sửa chữa lại đền thờ Trần Duy và chuyển bốn Phi về đây thờ cúng, vì Tứ Phi đều là con cháu họ Trần, bà Phùng Thị Thục Giang là cháu ngoại họ Trần cũng được thờ tại đây. Đền rất cổ kính nằm ở địa thế rất trang nghiêm, đẹp đẽ, hai bên có hai nhà bia. Bên trái là bia Tứ Phi Hoàng hậu, bên phải là bia Bình Ngô khai quốc công thần Thạch Quốc công Trần Duy.
+ Hoàng vĩ Thái hậu Trần Thị Ngọc Tranh (bà Trần Thị Ngọc Tranh và ông Trần Duy là anh em ruột, Huy chân Công chúa Trần Thị Ngọc Dung là con gái bà Trần Thị Ngọc Tranh. Trần Duy quê Tức Mặc Nam Định, khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần, để tránh họa, ba anh em là Trần Đạt, Trần Duy, Ngọc Tranh cùng gia nhân chạy về vùng La Sơn, Nghệ An chiêu dân lập ấp chờ thời. Trần Duy nhập nghĩa quân của Lê Lợi, có công lớn, được xếp vào bậc khai quốc công thần, mang quốc tính Lê Duy).
+ Huy chân Công chúa Trần Thị Ngọc Dung.
+ Huy gia Hoàng Thái hậu Trần Thị Ngọc Dương (Huy gia Hoàng Thái hậu Trần Thị Ngọc Dương là con gái Cung tĩnh vương Trần Xác, Hoàng phi của Lê Thánh Tông, cháu Lê Lợi).
+ Tích quang Hoàng Thái hậu Phùng Thị Thục Giang.
Bà Phùng Thị Thục Giang là con gái Chiêu dụ Vương Phùng Văn Đạt và bà Trần Thị Ngọc Hoa (bà Hoa là con gái Cung tịnh Đại vương Trần Xác), bà Giang gọi bà Trần Thị Ngọc Dương bằng dì, bà Phùng Thị Thục Giang là vợ của vua Lê Thánh Tông, bà sinh ra hoàng tử Kiến Vương Lê Tân. Lê Tân sinh ra Giản Tu công Lê Oanh, Oanh lên làm vua gọi là Lê Tương Dực (1509 - 1516), Tương Dực đã truy phong bà nội Phùng Thị Thục Giang hiệu là: Như Huy tích quang Hoàng Thái hậu. Bà Giang mất ngày 3 tháng 12, an táng tại khu Châu Nguyên, cải táng tại lăng Địa Tường. Bia mộ chí: Đại Việt Sùng viên Phùng Thị mộ chí. (theo lý lịch di tích khu lăng mộ, đền thờ các vua Lê, Hoàng Thái hậu, Hoàng hậu, giai đoạn 1489 đến 1527 của Ban Quản lý di tích Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, thì Nhu Huy Hoàng Thái hậu Phùng Thị Thục Giang là con gái Phùng Văn Đạt, người làng Mẽ, thị Trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, khi hóa bà được an táng tại khu lăng mộ các vua Lê ở làng Mẽ. Tác giả bổ sung để góp phần cùng nghiên cứu, đối chiếu tìm ra kết luận cuối cùng).
Cụ tổ Phùng Thạc làm quan chủ bạ trong Phủ Kiến vương Lê Tân trong nhà con trai bà Phùng Thị Thục Giang, cháu ngoại Chiêu dụ vương Phùng văn Đạt, rất có thể là hậu duệ của Phùng Tá Chu. Chúng ta chưa có căn cứ để đoán nhận mối quan hệ huyết thống giữa Phùng Văn Đạt với Phùng Thạc, nhưng tôi nghĩ không thể không có,nhất là nơi mất của bà Thục Giang và đền thờ bà cách nơi các hậu duệ của cụ Phùng Thạc hiện cư trú chỉ có một con sông nhỏ, đường chim bay chỉ vài cây số.
Trong cuốn sách Đất và người Đức Thọ có viết: Ở đền Tường Xá xã Đức Châu thờ Hữu Phú Trung càn hầu Phùng tướng công làm thành hoàng, thông tin này gợi ý cho tôi rằng đây là người họ Phùng trong sáu họ đầu tiên từ ngoài Bắc, sao lại không phải từ Nam Định vào lập nghiệp khoảng thế kỷ 14? Và cụ tổ chúng tôi là hậu duệ của người mở cõi này? Thái Phó Phùng Tá Chu từng làm Tổng trấn Nghệ An thế kỷ 13, vậy Phùng tướng công Thành hoàng làng Tường Xá, huyện La Sơn nhiều xác xuất là hậu duệ của ngài Phùng tá Chu lắm.
Từ đây có thể nhận định rằng, các dòng họ Phùng ở La Sơn trước kia, huyện Đức Thọ ngày nay và họ Phùng ở một số xã của Nam Đàn Nghệ An trong lưu vực sông Cả và sông La có chung một cội nguồn là đất Tường Xá, huyện La Sơn xưa và Đức Thọ ngày nay.
Theo gia phả họ Phùng tính từ cụ tổ đời thứ nhất Phùng Thạc đến cháu đích tôn Phùng Hải Bằng của tôi sinh năm 1995 đã trải 17 đời, khoảng 500 năm. Theo phả, họ Phùng Bùi Xá có nhiều đời “độc đinh” và “tuyệt tự”.
- Đời thứ nhất - Cụ tổ Phùng Thạc, tiếp theo 4 đời độc đinh.
- Đời thứ hai Phùng Phúc Tính.
- Đời thứ ba Phùng Cán.
- Đời thứ tư Phùng Quyền.
- Đời thứ năm có được ba đinh: a- Phùng Quang Tín, B- Phùng Quang Bích, c- Phùng Pháp Đạo. Cụ tổ chi chúng tôi là chi c - chi cụ Phùng Pháp Đạo. Tôi chỉ nói kỹ về chi c, lại trải qua 3 đời độc đinh nữa. Đó là:
- Đời thứ sáu Phùng Quán.
- Đời thứ bẩy Phùng Trọng.
- Đời thứ tám Phùng Trọng. Đời này có 3 đinh, tạo nên 3 nhánh tồn tại đến tận đời 16 ngày nay. Ba nhánh đó là: Na- Phùng Doanh, Nb- Phùng Đạt, Nc- Phùng Đương. Nhánh Nc là nhánh út, là nhánh chúng tôi.
Mặc dù cụ tổ Phùng Thạc xuất thân khoa bảng là Quốc Tử Giám Giám sinh, nhưng đến đời thứ 12, ngang với cụ Phùng Chúc là ông nội tôi, mới có một người đậu cử nhân, đó là cụ Phùng Duy Cần.
(Tác giả cuốn sách này căn cứ vào tư liệu - nguồn Chính phủ chung của Đông Dương, Chủ quyền và Tôn giáo Đông Dương, Hà Nội, IDEO, 1943, tr.8 để bổ sung, góp phần giúp người đọc tham khảo như sau:
“Cụ sinh năm 1890 tại Hạ Từ Hà Tĩnh, đỗ tú tài năm 1915, từng làm tri phủ, Quản đạo tỉnh Kontum, Án sát tỉnh Bình Thuận, Quản đạo tỉnh Gialai, Thị lang Bộ Tư pháp, Tham tri Bộ Nội vụ, và Bộ Nghi lễ và Công trình năm 1942.
- Cụ đã chỉ đạo xây dựng các công trình ở Huế: Trường Hau Bo Cao đẳng Quốc Tử giám, Hội đồng Mat và Trường Sanh Palace 1915-1919;
- Lãnh đạo xây dựng ngôi mộ của Hoàng thái tử và vua Khải Định;
- Mở rộng thành phố và tạo ra những ngôi nhà mới ở Kontum và Pleiku”
- Tên cụ được đồng bào tỉnh Kon Tum đặt cho một đơn vị hành chính gọi là Plei Kần.
Cụ về hưu năm 1944, được phong hàm Hiệp tá Đại học sĩ, nên vẫn gọi là Hiệp Cần.
Cụ Phùng Duy Cần có 2 người vợ, người vợ thứ nhất có một con gái và hai con trai. Người con trai thứ hai của cụ là Phùng Duy Phiên (1915 - 2017), ông Phiên tốt nghiệp Trường Võ bị Thủ Dầu Một thời Pháp thuộc (ông học cùng một lớp với Đại tướng Việt Nam Cộng hòa Dương văn Minh). Với quân hàm trung úy, sau vụ Nhật đảo chính Pháp, ông chạy sang hàng ngũ Việt Minh theo Nguyễn Chí Thanh. Là Đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương, trong kháng chiến chống Pháp, ông kinh qua nhiều chức vụ: Tham mưu trưởng Quân khu 4, Trung đoàn trưởng các Trung đoàn 101, 95, 18, Tham mưu trưởng các sư đoàn: 315, 316. Hòa bình lập lại ông được Nhà nước điều chuyển (cùng với Trung tướng Hoàng Văn Thái) làm Vụ trưởng Vụ Thể thao Quốc phòng, sau đó là Vụ trưởng Vụ Thể thao thuộc Ủy Ban Thể thao Quốc gia. Năm 1980 ông nghỉ hưu, và mất năm 2017 tại Huế.
Người vợ thứ hai của cụ Cần sinh một con trai và hai con gái. Người con gái thứ hai của cụ là Phùng Thị Cúc (1920 - 2014), bà tốt nghiệp đại học y khoa Hà Nội năm 1945, đi kháng chiến ở Việt Bắc, bà đính hôn cùng ông Hoàng Xuân Hà (ông Hà là em trai ông Hoàng Xuân Hãn), sau khi ông Hà mắc bệnh và mất, bà cũng đổ bệnh, gia đình đưa đi chữa bệnh tại Pháp, ở Pari bà bảo vệ luận án Tiến sĩ y khoa với đề tài “tục ăn trầu”, bà kết duyên cùng ông Nguyễn Bửu Điềm (tôn thất nhà Nguyễn). Sau đó bà đi theo con đường Nghệ thuật Điêu khắc, trở thành nghệ sĩ điêu điêu khắc nổi tiếng thế giới thế kỷ XX, là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Nghệ thuật châu Âu. Tên bà được ghi trong Tự điển Bách khoa Văn học - Nghệ thuật Châu Âu. Các con, cháu cụ Phùng Duy Cần ngày nay có người là sĩ quan QĐND Việt Nam, có người trở thành nhà Điêu khắc nổi tiếng thế giới, có người làm nhà giáo, nhà báo, kỹ sư, nhà nghiên cứu khoa học, doanh nhân...
Trong thời đại Cộng hòa XHCN Việt Nam, con em họ Phùng ở Bùi Xá đã có những thành tích học tập đáng kể, tốt nghiệp Đại học rất đông, không kể hết được, ở đây xin kể những người có học vị tiến sĩ trở lên.
TS Phùng Hồ, sinh năm 1938, tốt nghiệp đại học tổng hợp ngành vật lý tại Kieps Liên Xô năm 1965, bảo vệ phó tiến sỹ khoa học toán lý (nay là tiến sỹ) năm 1968, phó giáo sư năm 1984, giáo sư năm 1996, nguyên chủ nhiệm bộ môn vật lý chất rắn và bộ môn vật lý công nghệ vật liệu điện tử, viện vật lý kỹ thuật, trường đại học Bách khoa Hà Nội. (vợ Giáo sư Hồ là bà Kiều Thị Xin, tốt nghiệp đại học tại Matxcova Liên Xô, nay là Liên Bang Nga, bảo vệ luận án Tiến sĩ khoa học ngành khí tượng tại Cộng hòa dân chủ Đức, hiện nay là Phó Giao sư Tiến sĩ khoa học ngành Khí tượng).
TS Phùng Duy Dũng, sinh năm 1943 (con trai cụ Phùng Duy Phiên, cháu nội cụ Phùng Duy Cần), tốt nghiệp đại học ngành cơ khí chính xác ở Cộng hòa Dân Chủ Đức, bảo vệ tiến sỹ ở Cộng hòa dân chủ Đức, phó giáo sư, cán bộ giảng dạy trường đại học Bách khoa Hà Nội, sau chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh (ông đã mất).
TS Phùng Hồ Hải, sinh năm 1970, con trai giáo sư Phùng Hồ. Năm 1986 đang học lớp 11 đạt giải 3 Olimpic toán quốc tế ở Ba Lan, năm 1992 tốt nghiệp đại học toán ở Matxcova Liên Xô, năm 1996 bảo vệ luận án tiến sỹ ở Cộng hòa liên bang Đức, năm 2004 bảo vệ luận án tiến sỹ khoa học ở Cộng hòa liên bang Đức. Năm 2006 phong phó giáo sư toán, năm 2012 được đặc cách phong giáo sư. Hiện nay là nghiên cứu viên cao cấp, Viện trưởng Viện Toán học thuộc Viện hàn lâm khoa học Tự nhiên và Công nghệ Việt Nam, Tổng thư ký hội toán học Việt Nam từ 2013 - 2018.
TS Phùng Duy Quang, sinh năm 1975, con ông Phùng Duy Thắng. Năm 1997 tốt nghiệp khoa toán ĐHSP Hà Nội, bảo vệ luận án tiến sỹ toán học năm 2012, giảng viên chính, chủ nhiệm khoa Cơ bản trường đại học Ngoại Thương Hà Nội.
TS Phùng Duy Hồng Sơn, sinh năm 1981 con trai ông Phùng Duy Oánh, năm 2006 tốt nghiệp đại học Y khoa Matxco va Liên Bang Nga, năm 2012 bảo vệ luận án tiến sỹ Y khoa ở đại học Y khoa Matxcova Liên Bang Nga chuyên ngành giải phẫu tim. Hiện nay là bác sỹ giải phẫu tim bệnh vện Việt Đức Hà Nội.
TS Phùng Thị Kiều Hà, sinh năm 1978, con gái giáo sư Phùng Hồ. Năm 2001 tốt nghiệp khoa điện tử viễn thông đại học Bách khoa Hà nội, năm 2002 bảo vệ luận án thạc sỹ tại Italia, năm 2014 bảo vệ luận án tiến sỹ ở Vương quốc Bỉ. Hiện nay là giảng viên Viện điện tử viễn thông đại học Bách khoa Hà Nội.
TS Phùng Xuân Lan, sinh năm 1981, con gái ông Phùng Như Xuân (em trai GS Hồ). Năm 2004 tốt nghiệp khoa chế tạo máy đại học Bách khoa Hà Nội, được công nhận là thủ khoa xuất sắc, được vinh danh ở Văn Miếu Quốc Tử Giám. Năm 2008 bảo vệ luận văn Thạc sĩ ở Hàn Quốc, năm 2017 bảo vệ luận án tiến sỹ ngành chế tạo máy ở đại học Bách khoa Hà Nội. Hiện nay là Phó chủ nhiệm bộ môn công nghệ chế tạo máy đại học Bách khoa Hà Nội.
TS Phùng Mai Lan, sinh năm 1981, con gái ông Phùng Như Xuân (em trai GS Hồ), em song sinh của Phùng Xuân Lan. Năm 2004 tốt nghiệp đại học kinh tế Quốc dân Hà Nội. Giảng viên đại học Thủy Lợi Hà Nội. Bảo vệ luận án tiến sỹ ngành kinh tế Thủy Lợi.
Họ Phùng Hu Trì xã Thanh Lương huyện Vĩnh Bảo Hải Phòng
và xã Hồng Phong huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dương
(biên tập theo tài liệu anh Phùng Đường đại diện dòng họ)
Cụ tổ Phùng Quốc Công tự Minh Đạt Phủ Quân, gia phả họ Nguyễn Đức (gốc họ Phùng tại xã Thanh Lương, huyện Vĩnh Bảo thành phố Hải Phòng). Ghi tên Thủy tổ Nguyễn Quí Công tự Pháp Nghiêm.
Cụ sinh khoảng năm 1735 tại trấn Hải Dương, đạo Hạ Hồng, huyện Vĩnh Lạc, Tổng Hu Trì (nay là làng An Trì, xã Thanh Lương, huyện Vĩnh bảo, thành phố Hải Phòng), mất khoảng năm 1805. Các cụ làm nghề chài lưới ven sông Tranh, sông Luộc. Hai cụ sinh được hai người con trai, con trưởng là Phùng Quốc bảo (Nguyễn Quí Công tự Hải Tiêm, theo phả Nguyễn Đức tại Vĩnh Bảo), sinh sống tại HuTrì, đổi thành họ Nguyễn, một phần ít giữ họ gốc - Phùng. Người con thứ là Phùng Văn Hu (Phùng Quốc Huy), đã di cư và định cư tại My Động. Cụ Hu sinh 3 người con trai là ba ngành 1, 2, 3 họ Phùng ở My Động hiện nay.
Lịch sử dòng Họ Phùng ở Hu Trì đến nay đã có 5 lần con cháu dòng họ di cư lớn đến các địa phương khác định cư:
- Năm 1780 di cư lần thứ 1, từ Hu Trì tới My Động Thanh Miện. Người con thứ định cư lâu dài tại My Động, hậu duệ cụ Phùng Quốc Công sinh sống rất đông ở làng Mè (thôn My Đồng và My Động), xã Hông Phong, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.
- Năm 1845di cư lần thứ 2, từ Hu Trì hai cháu nội cụ Phùng Quốc Bảo di cư về bến lậu thôn Khả, Duyên Hải, Hưng Hà, Thái Bình).
- Năm 1850 di cư lần thứ 3, ông bà Phùng Văn Biên ngành 3 đưa con cháu vượt sông Luộc đến thôn Quán, xã Duyên Hải, huyện Hưng hà, tỉnh Thái Bình định cư.
- Năm 1889 di cư lần thứ 4, để tránh truy sát của người Pháp, ông Phùng văn Chung đã di cư đến Trà Dương, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên đổi họ thay tên là Đỗ văn Dưỡng, lập gia đình, định cư tạ đây. Hình thành dòng họ Đỗ gốc Phùng.
- Năm 1900 di cư lần thứ 5, ông Phùng Văn Thục (thế hệ thứ 6) cùng các con là Phùng Văn Nhỡ, Phùng Văn Được và Phùng Thị Chiều thuộc chi 1, ngành 1 di cư đến Đĩnh Đào, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Tại đây họ Vũ đã nhận nuôi ông Nhỡ, ông Được và gả con gái cho cả hai ông. Họ Phùng có 7 thế hệ tại Đĩnh Đào.
- Ngoài 5 lần di cư lớn nói trên, con cháu họ Phùng Hu Trì còn định cư khắp các địa phương trong cả nước.
Tính đến nay, họ Phùng Hu Trì đã trải gần 300 năm, có 13 thế hệ với 3191 hậu duệ, 1435 đinh, 1001 nữ và 755 dâu. Trong công cuộc xây dựng đất nước, con cháu họ Phùng làm nhiều nghề nghiệp khác nhau, tham gia các công tác xã hội ở địa phương, những năm đánh Pháp, đánh Mỹ nhiều người con dòng họ đã vào bộ đội, đi chiến trường đánh giặc cứu nước, nhiều người tiến bộ, thành đạt, dòng họ có nhiều người con là sĩ quan cấp tá, ông Phùng Văn Hướng chiến sĩ Điện Biên, có nhiều thành tích trong chiến đấu, được bầu là chiến sĩ thi đua toàn quốc, được gặp Bác Hồ. Đặc biệt có một người con thế hệ thứ 9 là ông Phùng Văn Bằng, Bí thư Đảng ủy Công ty Bảo đảm Hàng Hải có trụ sở tại thành phố Hải Phòng đã lập thành tích xuất sắc giữ ánh sáng đèn biển Hải Phòng nhiều năm, đảm bảo giao thông an toàn tuyệt đối cho các con tầu viễn dương của Việt Nam và quốc tế ra vào cảng Hải Phòng, ông đã được gặp Bác Hồ, được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.
Họ Phùng làng Áng Sơn, xã Thái Sơn, huyện An Lão, và làng Xâm Bồ quận Hải An, thành phố Hải Phòng (biên tập theo hệ thống nhà thờ, hệ thống lăng mộ các vị tổ ở làng hiện có, theo truyền ngôn của dòng họ Phùng và dân làng Áng Sơn, căn cứ sắc phong của các vị nhân thần ở làng Áng Sơn và Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng, Hồ sơ có liên quan đến họ Phùng của UBND xã Thái Sơn)
Về nguồn gốc xuất xứ, họ Phùng làng Áng Sơn - làng Xâm Bồ, trong cuốn sách này, khi viết về cụ tổ họ Phùng, tác giả căn cứ vào hệ thống mộ chí, hệ thống miếu thờ và nhà thờ, sắc phong của các triều đại Lê, Nguyễn cho cụ tổ họ Phùng, gia phả của các cành, nhánh, lời kể của các bậc cao lão trong họ, truyền ngôn trong dòng họ và dân làng Áng Sơn. Với những căn cứ trên vào cuối thế kỷ XVII, có người phụ nữ cốt cách đoan trang, dung hậu cùng một người con trai có tướng mạo khác thường không biết từ đâu đã đến làng Áng Sơn. Vì yêu mến phong cảnh sơn thủy hữu tình, thế đất, thế làng, rồng chầu, hổ phục, nơi giao hòa giữa núi rừng và biển cả, hai mẹ con người họ Phùng đã quyết định dừng chân ở lại cùng các dòng họ lập làng, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con cháu muôn đời mai sau. Như vậy, một trong các dòng họ về lập làng Áng Sơn sớm nhất là người họ Phùng. Cụ tổ họ Phùng làng Áng Sơn có tên Phùng Long Tương, thân phụ sinh ra cụ là ai, tên, tuổi, ngày sinh, ngày hóa, quê quán ở đâu con cháu cụ đều không được biết; thân mẫu của cụ cũng vậy, tên, tuổi, ngày sinh, ngày hóa đến nay con cháu Phùng tộc cũng đều không biết, không có tài liệu nào ghi chép lại, chỉ có truyền ngôn trong dòng họ và dân làng Áng Sơn.
Ngày 7 tháng Giêng hàng năm là ngày giỗ tổ họ Phùng làng Áng Sơn và làng Xâm Bồ. Vào ngày này, con cháu Phùng tộc từ khắp các vùng miền đất nước hội tụ về miếu tổ làm lễ dâng hương tưởng nhớ đến cụ tổ đã sinh thành ra con cháu dòng họ. Vào ngày giỗ tổ, từ xa xưa hàng Giáp của làng và dòng họ thường tổ chức tế, lễ. Các chi, phái, cành, nhánh tổ chức lễ dâng hương, tổ chức các trò vui chơi giải trí: đánh vật, chọi gà, hát chèo. Hiện nay, vào ngày giỗ tổ chủ yếu tổ chức cúng tế, các trò chơi như thời cổ không còn đươc tổ chức nữa.
Cụ tổ Phùng LongTương sinh ra ba người con trai:
- Cụ Phùng Nhân Khánh là ngành cả.
- Cụ Phùng Đại Liệu là ngành hai.
- Cụ Phùng Tử Lân là ngành ba.
Ba người con trai của tổ Phùng Long Tương sau này trở thành tổ họ Phùng của ba ngành.
Cụ tổ ngành ba là Phùng Tử Lân đã di cư đến lập đất, lập làng tại làng Xâm Bồ, tổng Lương Xâm, huyện Hải An, tỉnh Kiến An, nay là làng Xâm Bồ, phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Theo truyền ngôn của làng và dòng họ, cụ tổ ngành ba Phùng tộc đã về Xâm Bồ sinh cơ lập nghiệp đến nay đã được 13 đời, cụ hóa ngày 24 tháng 4, hiện nay dòng họ lấy ngày 12 tháng Chạp hàng năm để con cháu tổ thắp hương cụ tại từ đường dòng họ, mộ cụ được táng tại đường xứ Đồng Hồ, hướng tây làng Xâm Bồ. Do có công lao, và để lại phúc ấm cho dân làng, cụ đã được dân làng Xâm Bồ và con cháu họ Phùng tổ chức phối thờ tại đình làng cùng Đức Thánh Đại vương Ngô Quyền. Đến nay, con cháu ngành ba Phùng tộc làng Xâm Bồ đã phát triển lên 6 chi (cành trưởng có 2 chi, cành thứ có 3 chi, cành út có 1 chi) với 1107 suất đinh (số người đã qui tiên là 531), hiện còn sống 576 suất đinh với 2700 nhân khẩu, 1505 lao động. Nhà thờ họ được xây dựng năm Bính Thìn (1916), hoàn thành năm Đinh Tỵ (1917) để thờ tổ Thái bảo tướng công Phùng Tử Lân và các vị tổ tiên dòng họ. Công trình từ đường có diện tích rộng 70m2, làm bằng gỗ tứ thiết (lim), tiền tuế, hậu cung, 3 gian thuận chồng, 5 con hàng xà. Công trình đã đi qua hai thế kỷ, được con cháu các thế hệ người họ Phùng làng Xâm Bồ thường xuyên tôn tạo, vun đắp giữ gìn.
Vào triều hậu Lê, họ Phùng ngành 3 Xâm Bồ có nhiều người có công với nước, với dân trong bảo vệ và xây dựng đất nước, tiêu biểu là hai cha con cụ Phùng Tử Lân (cha) và Phùng Tử Nhẫn (con) được vua Lê phong làm Thái bảo tướng công; cụ Phùng quý công tự Đạo Lâm, là Thái Y viện, cụ có tâm đức luôn trị bệnh cứu người; cụ Phùng quý công tự Đạo Minh, làm Khánh Linh hầu; cụ Phùng quý công tự Văn Đăng, làm quan Khánh Đội trưởng bảo vệ an lành cho dân; nhiều thế hệ con cháu các cụ sau này tham gia việc làng Xâm Bồ làm chánh tổng, lý trưởng của làng; ngày nay con cháu họ Phùng ngành 3 Xâm Bồ làm ăn, sinh sống ở nhiều vùng miền của đất nước như: Hải Phòng, Hà Nội, Quảng Ninh,… Trong hai cuộc chiến tranh đánh thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dòng họ có một người con là liệt sĩ chống Pháp, 15 người con là liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hàng chục thanh niên xung phong tòng quân giết giặc bảo vệ quê hương. Dòng họ có 3 cụ được Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Cụ Nguyễn Thị Xuyên, Cụ Nguyễn Thị Đán Cụ Phùng Thị Ba. Hai đại tá quân đội là: Đại tá Phùng Văn Găng, Đại tá Phùng Văn Vinh.
Về truyền thống học tập, ngành ba Phùng tộc có hàng chục con em tốt nghiệp đại học, trong đó có một tiến sĩ khoa học ngành Thủy lợi là ông Phùng Văn Phúc.
Con cháu họ Phùng ngành cả và ngành hai ở làng Áng Sơn có tấm lòng hiếu thảo, luôn nhớ đến công ơn tổ tiên, ông bà, cha mẹ, tiêu biểu cho phẩm chất tốt đẹp đó là việc táng mộ tổ Mẫu thân sinh cụ Phùng Long Tương cách ngày nay mấy trăm năm. Trải qua thăng trầm lịch sử, chiến tranh liên miên, hết đánh Pháp, Nhật, Tầu Tưởng xâm lược, đặc biệt bom đạn của Mỹ cày xới khu đất có mộ chí, lại đến những biến động xã hội phức tạp, những xáo trộn xã hội trong làng Áng Sơn, nhưng mộ tổ Mẫu vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Tương truyền, cụ bà và người con trai không rõ từ đâu đến, ngắm thế đất thế làng sơn thủy hữu tình, mẹ con cụ đã dừng chân lập nghiệp tại làng Áng Sơn. Nhờ có công cùng dân làng Áng Sơn khai khẩn đất đai, mở mang làng xóm, dạy dân trồng lúa, chăn nuôi, đặc biệt cụ đã nuôi dạy con trai Phùng Long Tương thành người tài, phù vua, giúp nước. Khi mất, con cháu và dân làng đã táng cụ trên đường “Con Quy” phía đông cánh đồng Cửa Thần, nơi có khí thiêng hội tụ, gọi là đất địa cát, hợp phong thủy. Mộ của Mẫu được làng gọi là mộ “Kim Quy” tức là rùa vàng. Mộ tựa lưng vào dãy núi, mặt nhìn hướng tây Nam ra biển. Việc xây dựng các miếu và nhà thờ để chăm lo hương khói, tế lễ, kỷ niệm, nhớ ơn tổ và các tổ ngành họ Phùng ở hai làng Áng Sơn và làng Xâm Bồ được con cháu Phùng tộc quan tâm, thường xuyên tôn tạo, bảo vệ và giữ nguyên vẹn giá trị vật chất, tinh thần. Việc làm đó thể hiện phẩm chất tốt đẹp của người họ Phùng từ trước tới nay ở cả hai làng Áng Sơn và Xâm Bồ.
Là một trong các dòng họ về lập làng Áng Sơn ngay từ buổi ban đầu, người họ Phùng luôn thể hiện tinh thần hòa hiếu, đoàn kết với các dòng họ trong làng (hiện nay làng Áng Sơn có mấy chục dòng họ cùng sinh sống, đoàn kết xây dựng làng theo tiêu chí nông thôn mới), xã đánh giặc giữ nước, bảo vệ và xây dựng quê hương.
Đến nay họ Phùng làng Áng Sơn và làng Xâm Bồ có 13 đời,con cháu cụ làm ăn, sinh sống ở làng Áng Sơn xã Thái Sơn huyện An Lão, làng Xâm Bồ phường Nam Hải quân Hải An, số còn lại học tập, công tác, sinh sống ở Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, các địa phương khác và ngoài nước. Kể từ thuở ban đầu về làng dòng họ chỉ có hai mẹ con, sau hơn 300 năm, theo thống kê sơ bộ, tại làng Áng Sơn có 713 suất đinh, 1089 nhân khẩu, con cháu ngành út của cụ ở làng Xâm Bồ có 576 suất đinh và 2700 nhân khẩu. tổng số đinh và nhân khẩu họ Phùng ở hai làng Áng Sơn và Xâm Bồ là: 1289 đinh, 3789 nhân khẩu. Thừa kế những phẩm chất tốt đẹp của ông cha, con cháu Phùng tộc làng Áng Sơn và làng Xâm Bồ thời nào cũng xuất hiện những người con có phẩm chất tốt đẹp.
Dưới triều hậu Lê, cụ tổ dòng họ là Phùng Long Tương làm quan Điện tiền Chỉ huy sứ, người con thứ hai của tổ là Phùng Đại Liệu làm quan Điện tiền Đô Thái chúa, người con thứ ba Phùng Tử Lân làm quan Thái bảo tướng công. Do có công lao với đất nước, dân làng lập miều thờ cụ Phùng Long Tương (cha) và Phùng Đại Lực (con) đã được UBND Thành phố Hải Phòng ra Quyết định số 61 và số 62 (12/1/2012) cấp Bằng Di tích lịch sử văn hóa cấp Thành phố cho Cụm miếu thờ “Phùng Trung đẳng thần”.
Thời phong kiến, họ Phùng làng Áng Sơn cũng có những người con thành đạt, tiêu biểu là cụ Phùng Văn Đấng, gia sản có tới trăm mẫu ruộng Bắc Bộ, cụ xây dựng tòa nhà gỗ bằng gỗ tứ thiết 5 gian với kiến trúc cổ, được chạm trổ tinh vi, cụ làm nhà không phải để thờ cúng tổ tiên, cũng không phải để ở mà để đối ngọai, giao lưu, gặp gỡ bạn hữu gần xa, hiện nay ngôi nhà vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Cụ Phùng Văn Nuỗm, em họ cụ Đấng cũng là người có gia sản, cụ Nuỗm cũng xây dựng ngôi nhà bằng gỗ tứ thiết 5 gian, cửa thùng, khung khách, được chạm khắc tinh xảo, ngôi nhà này vào thập niên 90 thế kỷ 20 đã được bán cho Bảo tàng Thành phố Hải Phòng, hiện nay ngôi nhà là nơi làm việc của phòng Nghiệp vụ của Bảo tàng Thành phố Hải Phòng. Cụ Phùng Văn Hỏi, em họ cụ Đấng là lý trưởng làng Áng Sơn, cụ cũng là người có gia sản, ruộng cấy có vài chục mẫu Bắc Bộ, cụ Hỏi làm nghị viện Bắc Kỳ. Tuy là những người có gia sản trong làng, nhưng các cụ Đấng, Nuỗm, Hỏi đều có tinh thần nhân ái, luôn giúp đỡ người nghèo trong lúc cơ hàn, nhất là trong nạn đói năm 1945, các cụ đều góp tiền, góp gạo giúp đỡ người làng thiếu đói, ủng hộ tiền gạo cho kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Tham gia bộ máy chính quyền ở làng Áng Sơn thời phong kiến có các cụ Phùng Văn Đấng - Chánh hội làng Áng Sơn, Phùng Văn Nuỗm - Chánh hội làng Áng Sơn, Phùng Văn Hỏi - Lý trưởng làng Áng Sơn - Nghị viện Bắc Kỳ, Phùng Văn Thảng, Chánh tổng làng Áng Sơn, Nghị viện tỉnh Kiến An (con trai trưởng cụ Đấng), Phùng Văn Thốt, làm Chánh hội làng Áng Sơn (con trai thứ cụ Đấng), Phùng Văn Bồ, Chánh tổng làng Áng Sơn (cháu nội cụ Đấng). Người họ Phùng ở làng Áng Sơn có chữ đều ra dạy chữ cho làng, tiêu biểu là các ông Phùng Văn Tiểu, Phùng Văn Mít, Phùng Văn Nhìn, Phùng Văn Mễ là thầy giáo dạy chữ cho dân làng. Những người họ Phùng ở làng biết nghề làm thuốc đều nhiệt thành chữa bệnh cho dân làng, trở thành ông lang của làng, để lại tiếng thơm đến hậu thế như: Ông Lang An, lang Khoảnh, lang Thử...
Từ khi cách mạng nổi lên, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, họ Phùng làng Áng Sơn đã có nhiều người con không sợ khó khăn, gian khổ, hy sinh, bí mật từ biệt gia đình, người thân, bà con làng xóm tham gia hoạt động cách mạng trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt nam, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, sau khi cách mạng thành công các ông đều là cán bộ của tỉnh Kiến An, thành phố Hải Phòng, tiêu biểu là các ông: Phùng Văn Hàm, Phùng Văn Vược, Phùng Công Thức, Phùng Bá Thứ, Phùng Sơn (Phùng Văn Tiểu)… Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, họ Phùng ở làng Áng Sơn đã có 11 (1 người ở làng Xâm Bồ) người con chiến đấu chống lại giặc Pháp xâm lược, anh dũng hy sinh, là liệt sĩ. Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, họ Phùng đã có 49 (15 liệt sĩ ở làng Xâm Bồ) người con tham gia bộ đội, vào chiến trường miền Nam chiến đấu, anh dũng hy sinh, là liệt sĩ. 11 người là thương Binh (4 người ở làng Xâm Bồ). Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược, họ Phùng ở làng Áng Sơn và làng Xâm Bồ có 6 cụ được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đó là các cụ: Phùng Thị Nghiên, Phùng Thị Tè, Phùng Thị Vá, Cụ Nguyễn Thị Xuyên, Cụ Nguyễn Thị Đán, Cụ Phùng Thị Ba.
Trong hòa bình, bảo vệ, xây dựng quê hương, con cháu dòng họ luôn đoàn kết, cần cù lao động, nhiều người có chí tiến thủ, học tập sáng tạo trên các lĩnh vực. Kết quả sơ bộ về thành tích phấn đấu học tập, có hàng chục người tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ. Có 9 người là tiến sĩ:
- Phùng Thảo, sinh năm 1949, Tiến sĩ Lịch sử, tốt nghiệp năm 1986 tại Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Matxcova Liên Xô, nay là Liên Bang Nga.
- Phùng Thanh Chương, sinh năm 1957, Tiến sĩ luyện kim, tốt nghiệp năm 1991 tại Xlovakia Tiệp Khắc.
- Phùng Văn Phúc, sinh năm 1954, Tiến sĩ Thủy lợi, tốt nghiệp tại học viện Thủy Lợi.
- Phùng Thị Huệ, sinh năm 1956, Tiến sĩ Lịch sử, tốt nghiệp năm 2000, tại Trường Đại học KHXHNV. Là PGS Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
- Phùng Văn Hùng, sinh năm 1960, Tiến sĩ Kinh tế, tốt nghiệp năm 2006 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.
- Phùng văn Thanh, sinh năm 1968, Tiến sĩ Kinh tế, tốt nghiệp năm 2014 tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân.
- Phùng Mạnh Dương, sinh năm 1978, Tiến sĩ CNTT, tốt nghiệp năm 2016 tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Phùng Đức Lâm, sinh năm 1971, Tiến sĩ Y học, tốt nghiệp năm 2017 tại học viện Quân y.
- Phùng Thị Thúy Hằng, sinh năm 1979, Tiến sĩ Y học, tốt ngiệp năm 2003 tại trường Đại học Y Hà Nội
- Thạc sĩ: hàng chục người.
- Nhà văn Phùng Văn Ong,
- Nhà báo: 4 người.
- Đạo diễn, quay phim - nghệ sĩ ưu tú Hãng phim khoa học thời sự Trung ương Phùng Ty.
- Thầy giáo: 6 người.
- Thầy thuốc: 10 người.
- Thành ủy viên thành phố Hải Phòng 2 người: TS Phùng Thảo, TS Phùng văn Thanh.
- Đại biểu Quốc hội khóa 13 và 14: TS Phùng văn Hùng.
- Cục,Vụ, Viện trưởng 3 người: Phùng Thảo, Phùng Văn Hùng, Phùng Thị Huệ.
- Cán bộ lãnh đạo xã, huyện, ban ngành tỉnh, thành phố: Hàng chục người.
- Đại tá quân đội và công an có 08 người: Phùng Duy Tường, Phùng Văn Nghĩ (đã mất), Phùng Văn Găng (đã mất), Phùng Văn Thành, Phùng Công Thưởng, Phùng Mạnh Đoàn (đã mất), Phùng Văn Vinh, Phùng Văn Tuấn.
Họ Phùng làng Bát Tràng
Theo tộc phả họ Phùng Làng Bát Tràng do Tiến sĩ Phùng Văn Bảng cung cấp và ý kiến của ông Phùng Quốc Yên, họ Phùng làng Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội có mặt ở làng từ lâu đời - hơn 500 năm. Căn cứ tộc phả dòng họ, tính đến nay họ Phùng làng Bát Tràng có 21 đời, với số đinh hơn 500, số khẩu hơn 1000 người, đời thứ nhất họ Phùng làng Bát Tràng là cụ ông Phùng Nhã Lượng và cụ bà Lê Thị Hàng Nhất. Họ Phùng làng Bát Tràng là dòng họ có truyền thống văn giáo, khoa bảng, hòa hiếu. Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, dòng họ luôn đoàn kết cùng các dòng họ khác trong làng đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng quê hương đất nước. Thời đại nào, khi quê hương đất nước cần, dòng họ cũng có những người con ưu tú tham gia gánh vác nhiệm vụ mà tổ quốc giao cho.
Chỉ tính dưới thời Lê và Nguyễn, họ Phùng làng Bát Tràng đã có 25 người đỗ đạt và làm quan trong triều phong kiến: Phùng Huân Thức, Bản phủ sinh, Phùng Hy Điền, Tri Phủ Thiên Trường, Phùng Dư Thức, Nho sinh Cục Tú lâm, Phùng Hy Kỳ, Bản phủ phủ sinh, Phùng Công Khuê, Huấn đạo Phú Bình, Phùng Cảnh Lượng, Bản phủ phủ sinh, Phùng Đắc Phú, Huyện thừa Thùy vân, Phùng Đôn Chất, Bản phủ phủ sinh, Phùng Trọng Hướng, Bản phủ phủ sinh, Phùng Y Nhân, Bản phủ phủ sinh, Phùng Đoan Tiệp, Bản phủ phủ sinh, Phùng Thuần Phác, Bản phủ phủ sinh, Phùng Thế Nho, Bản phủ phủ sinh, Phùng Đức Nhuận, Sinh đồ (Tú tài), Phùng Trần Mô, Sinh đồ, Phùng Huy Vĩ, Sinh đồ, Phùng Văn Xám, Tú tài khoa Tân Sửu (1841), Phùng Hữu Thanh, Tua tài khoa Giáp Thân (1884), Phùng Huy Trứ, Tú tài khoa Canh Tý (1900), Phùng, Huy Chiểu, Tú tài khoa Canh Tý, Phùng Năng Tĩnh, Tú tài khoa Nhâm Tý (1912), Phùng Trọng Đạt, Sinh đồ, Phùng Trọng Thực, Tiến sĩ đồng tri châu, Phùng Bá Chử, Bản phủ sinh, Phùng Huy Phiên, Bản phủ phủ sinh.
- Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ xâm lược, dòng họ có rất nhiều người tham gia đánh Pháp, đánh Mỹ giải phóng quê hương đất nước. Đã có 12 người chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, được ghi công liệt sĩ: Phùng Viết Châu, Phùng Trung Định, Phùng Sang Hải, Phùng Quốc Hưng, Phùng Văn Nhung, Phùng Văn Oanh, Phùng văn Pha, Phùng văn Phúc, Phùng Văn Quý, Phùng văn Thắng, Phùng văn Toản,Phùng văn Yến.
- Hàng trăm người tốt nghiệp đại học,
- 14 người là Giáo sư, Tiến sĩ.
- 20 người là Thạc sĩ.
Trong dòng họ cụ Phùng văn Trinh là nhà giáo tiêu biểu, nhà giáo yêu nước, cụ có công truyền bá chữ quốc ngữ và tình yêu quê hương, đất nước cho nhiều thế hệ cán bộ cách mạng ở vùng Nam Sách tỉnh Hải Dương. Tên cụ đã được chính quyền địa phương đặt cho tên Trường Tiểu học Phùng Văn Trinh xã Đồng Lạc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.
- Con gái cả cụ là Thẩm phán bà Phùng Lê Trân, bà là Chánh tòa xử vụ án nổi tiếng Tạ Đình Đề những năm 1970 (Bà Trân là tấm gương sáng của dòng họ, sẽ được giới thiệu).
- Con trai cả cụ là luật sư Phùng văn Tửu, Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, Chủ Tịch Hội Luật gia Việt Nam.
- Con trai Thứ hai cụ là NGUT Giáo sư Phùng Văn Tửu (Tửu em) văn học, đạt Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
- Con trai thứ ba cụ là NGUT Phùng Văn Tửu (Tửu Ba), hiệu Trưởng trường Cao đẳng nghề cơ khí nông nghiệp.
- Con trai thứ tư cụ là Phùng Văn Tửu (tư), ông là sĩ quan QĐNDVN, ông chuyển ngành làm Giám đốc nông trường Ba Vì.
- Phùng Khánh Tài Phó Chủ tịch Ủy ban Trưng ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, sau là Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ (ông Tài là con trai NGUT Phùng Văn Tửu (Tửu ba)).
- Phùng Thế Long Đại sứ Việt Nam tại Ca - Ta (ông Long là con trai GS Phùng văn Tửu).
- Phùng Mạnh Đắc, Viện trưởng viện, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam.
- Phùng Hữu Hào, Phó cục trưởng Cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và Thủy sản Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn. (ông Hào là con trai Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng văn Tửu).
Với kết quả nghiên cứu ban đầu, có thể nhận xét:
1- Họ Phùng Việt Nam là dòng họ xuất hiện ở Việt Nam từ khá lâu đời, từ thời Hùng Vương.
- Từ xa xưa, người họ Phùng đã định cư ở vùng đất Bắc xứ Đoài (Sơn Tây, Hà Đông, một phần đất Hà Nội, Phú Thọ, Vĩnh Phúc).
- Trải qua các triều đại, qua chiến tranh, qua quá trình mở rộng biên cương, quá trình di cư tự do, quá trình hôn phối giữa các dòng họ, và ngày nay qua đường lối, chính sách xây dựng kinh tế và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước, người họ Phùng đã di chuyển sinh sống ở khắp các vùng miền: Bắc, Trung, Tây Nguyên, miền Nam, và ngoài nước.
- Trong tiến trình lịch sử của dân tộc Việt Nam, người họ Phùng luôn đoàn kết cùng Bách họ Việt Nam đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do, xây dựng và phát triển đất nước. Ở thời đại nào, họ Phùng Việt Nam cũng xuất hiện những người con có đức, có tài, đóng góp công sức cùng bách họ Việt chiến thắng thù trong, giặc ngoài, xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam.
2- Họ Phùng Đại Lực (Phùng Công Lực), Hộ Quốc đại vương, một trong các tướng của Hùng Vương là một họ trong số các dòng họ nói trên. Từ trước Công nguyên - Hùng Vương, đã có ông Phùng Đặng và vợ là bà Lưu Thị Tuấn là người đức hạnh ở làng Thung Xá, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam sinh ra một người con trai, “cha mẹ đặt tên là Lực, cho theo học thầy Hiên Đường. Chỉ mấy năm mà văn chương thấu suốt nơi cửa Khổng Mạnh, tài thao lược đâu kém Tôn, Ngô. Từ thiên văn, địa lý, nhân sự đều am tường, ai ai cũng coi là thánh đồng, bạn bầu cùng lứa đều thán phục tài nghị luận”.
- Đến năm 40 sau Công nguyên (Bắc thuộc lần thứ nhất), có nữ thần tướng Phùng Thị Chính, đã phất cao ngọn cờ nương tử theo Hai Bà Trưng đền nợ nước trả thù nhà; nữ thần tướng Phùng Thị Vĩnh Hoa đã đem quân theo Bà Trưng dẹp giặc Hán; hai nữ thần tướng song sinh Phùng Thị Tú, Phùng Thị Huyền (thường gọi là Ả Tú, Ả Huyền) là hai chị em song sinh ở thôn Rau Cốc chiêu mộ binh sĩ góp sức theo Hai Bà Trưng cứu nước.
- Năm 528 (Bắc thuộc lần thư hai) có Hữu tướng Phùng Thanh Hòa theo giúp Lý Nam Đế đánh đuổi quân Lương (Bắc thuộc lần thứ hai).
- Bố Cái Đại Vương - Phùng Hưng thế kỷ thứ VIII năm 766 - 791 (Bắc thuộc lần thứ ba) lật đổ ách đô hộ của nhà Đường.
- Thái phó lưỡng triều Lý - Trần Phùng Tá Chu thế kỷ XIII (thời Phong kiến tự chủ)có công giúp nhà Trần dựng nghiệp; quan Hành khiển, Thiếu phó Phùng Sĩ Chu thời Trần góp phần đánh quân Mông Nguyên; dưới thời Lê Thái Tổ có Phùng Nhậm làm Tả thị lang; thế kỷ thứ XV, có Thẩm hình viện sự - Tả đô đốc Phùng Tiến Đạt (Phùng Văn Đạt) và con gái là Phùng Thị Thục Giang sau này là vợ vua Lê Thánh Tông - Hoàng thái hậu Phùng Thị Thục Giang; năm 1528-1613, thời Lê có Thái tế mai quận công Hoàng Giáp - đệ nhị Giáp tiến sĩ Phùng Khắc Khoan, và nhiều nhà khoa bảng, trí thức họ Phùng trong các triều đại phong kiến có đức, có tài đã đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ và chấn hưng đất nước.
- Thời đại Hồ Chí Minh: Nối tiếp truyền thống các bậc tiền nhân, họ Phùng từ đầu thế kỷ XX đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,dân tộc ta đã đi qua nhiều cuộc kháng chiến lâu dài anh dũng chống giặc ngoại xâm và trong sự nghiệp xây dựng chấn hưng đất nước, các thế hệ người họ Phùng tiếp tục đồng hành cùng trăm họ Việt Nam đóng góp trí tuệ, mồ hôi, xương máu, vật lực, tài lực… cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, và xây dựng CNXH trên đất nước Việt Nam. Dòng họ có những người con tiêu biểu như: Bác sĩ Phùng Văn Cung, Anh hùng LLVT Quân đội - Đại tướng Phùng Quang Thanh, vị lão thành cách mạng Thượng tướng Phùng Thế Tài, Anh hùng LLVT Quân đội - Thiếu tướng Phùng Quang Bích, Thiếu tướng Phùng Bá Thường, Anh hùng LLVT Quân đội Đại tá Phùng Văn Khầu, Anh hùng Lao động Phùng Văn Bằng, người chiến sĩ cách mạng trong phong trào Dân chủ 1936 - 1939 Phùng Lưu, Điêu khắc gia, Tiến sĩ Y khoa, Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học - Nghệ thuật châu Âu Phùng Thị Cúc (Điềm Phùng Thị), nhà văn, nhà thơ Phùng Quán, nhà văn Phùng Thị Lệ Lý...
Trong bài viết này, do hạn chế về nguồn tư liệu cũng như còn nhiều khó khăn khác chưa thể vượt qua, thêm nữa đây là bài viết cho Hội thảo với mong muốn cung cấp tư liệu, tác giả mới chỉ tập hợp và chỉ có thể giới thiệu được một số thông tin khiêm tốn về người họ Phùng từ thời Hùng Vương đến thời đại Hồ Chí Minh