(Thứ năm, 26/02/2026, 09:33 GMT+7)

 

Tiến sĩ Phùng Thảo
Phó Chủ tịch Hội đồng họ Phùng Việt Nam
 

 

Tiến sĩ Phùng Thảo

 
 
PHẦN II. NHỮNG NHÂN VẬT LỊCH SỬ QUA CÁC THỜI KỲ
 

  1. Thời thượng cổHùng Vương

 
Phùng Đại Lực Tướng quân[1]
(Biên tập theo Sách Nhân vật lịch sử Hải[2]Phòng tập 1. NXBHP. Tr 14 năm 2000; Thần tíchmiếu Ba vua, Thần tích đình Thượng Điện)
 
Theo Cổ Lôi Ngọc Phả truyền thư thì họPhùng có từ thời Hùng Vương. Phùng Đại Lực(thời Hùng Vương tứ 18)quê ở làng Thôn Xá, huyện Đông An, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam, cha là Phùng Văn Đăng, mẹ là Lưu Thị Tuấn, ông bà là người tu nhân tích đức đến khi tuổi cao, ông bà mới sinh Phùng Đại Lực. Phùng Đại Lực là người thông minh, có sức khỏe “cử đỉnh bạt núi”, văn võ tinh thông. Năm ông 20 tuổi cha và mẹ đều mất. Sau khi chịu tang chamẹ xong, ông đi khắp mọi nơi tìm thầyhọc đạo, kết nghĩa bạnbè. Phùng Đại Lực kết nghĩa anh em với Tản Viên Sơn Thánh, ông được làm qua trong triều. Khi có gặc Ai Lao quấy pháđất nước, ông được vua Hùng cử đi đánh giặc. Sau khi thắng trận, ông xin vua Hùng về Cá Chử an dưỡng tuổi già. Tại quê hương, ông dạy dân giữ gìn thuần phong mỹ tục, dạy dân cày cấy, trồng dâu nuôi tằm, giúp đỡ nhau làm ăn, sống nhân nghĩa hòa thuận.Ông được dân làng hết mực kính trọng.Ông hóa vào mùng 5 tháng Chạp, nhân dân nhân dân làng Cá Chử lập miếu thờ ông làmthành hoàng làng., ông được sắc phong Thượng Đẳng Phúc Thần, thần hiệu là “Đại Lực hộ quốc linh ứng thánh thần tiền liệt Đại Vương”. Từ đó về sau, trải các triều Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lý, Trần, Lê các đời vua khai sáng cơ đồ giúp nước cứu dân vô cùng linh ứng. Vì thế được nhiều triều đế vương gia phong mỹ tự, lấy đó làm huyết thực ngàn năm. Miếu thờ ông được Bộ Văn hóa Thông tin cấp Bằng di tích lịch sử cấp quốc gianăm 1999.
Thôn Nhân Giả còn có Lý Cương và Lý Bảo là hai anh em sinh đôi, quê ở châu Hoan. Hai anh em đều làm quan trong triều, Lý Cương là Tả Đô Hoài, Lý bảo là Hữu Đô Hoài. Khi nhà Tống xâm lược nước ta, hai anh em Lý Cương và Lý Bảo đã đánh thắng giặc Tống, binh phạt Chiêm Thành lập công lớn, hai ông hy sinh tại Ái Châu. Vua phong sắc chỉ, truy tặng hai anh em Thượng đẳng thần. Nhớ ơn công đức hai ông, nhân dân thôn Nhân Giả lập miếu thờ, ngàn năm hương khói.
Thôn Nhân Giả xã Vinh Quang có 3 miếu, miếu Cả thờ Phùng Đại Lực, Miếu giữa thờ Lý Cương, miếu Hậu thờ Lý Bảo. Trải qua chiến tranh và thời gian tàn phá, hiện nay Nhân Giả chỉ còn lại ngôi miếu Giữa, 3 vị Thành hoàng được thờ ở miếu giữa, dân làng gọi là miếu 3 vua.
Ở làng Thượng Điện (bên cạnh thôn Nhân Giả), xã Vinh Quang, dân làng nhớ ơn công đức Phùng Đại Lực đã xây đình thờ ông làm Thành hoàng làng. Năm 1999, miếu 3 Vua và đình Thượng Điện được Bộ Văn Hóa Thông tin xếp hạng di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia.
 
 
 
Các bà mẹ họ Phùng sinh ra các vị thần tướng
(Nguồn: Sách họ Phùng Việt Nam tập IV,PGS TS Phùng Văn Duân)
 
- Vợ chồng cụ bà Phùng Thị Ích và cụ ông Trương Tung Hai cụ quê làng làng Trịnh Xá, khu Nguyễn Xá, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, đạo Kinh Bắc sinh con trai là Trương Nam Định. Ngài được vua Hùng Duệ Vương phong làm Tiền đạo Đương Lộ Tướng Quân đánh thắng quân Thục. Ngài hóa vào ngày Rằm tháng Bẩy. Ngài được dân làng Nguyên xá lập đền thờ gọi là đền Trương Định Xá, dân làng Tây Hạ xã Bàn Giản, huyện Lập Thạch thờ ngài làm thần Thành Hoàng.
- Vợ chồng cụ bà Phùng Thị Thuần và cụ ông Đặng Cẩn Hai cụ quê ở châu Quỳnh Nhai sinh đôi, người con lớn đặt tên Đặng Minh Đức, người con thứ đặt tên Đặng Chiêu Trung. Cả hai đều học lực tinh thông, binh thư siêu phàm, tài năng võ nghệ cao cường...Vua Hùng Duệ Vương phong làm Điện Tiền Đô chỉ huy sứ Tả tướng quân. Hai Ngài đã cùng Ngài Nguyễn Tuấn (Đức thánh Tản Viên) đánh thắng quân Thục. Hai Ngài hóa vào ngày 3 tháng Chạp. Được phong Thượng đẳng thần. Dân các làng Lưu Thượng, Lưu Hạ, xã Nghĩa Trung huyện Yên Mỹ Hưng Yên dựng đền thờ hai Ngài.
 
 
 
 
II. Bắc thuộc lần thứ nhất chống lại ách thống trị của nhà Hán năm 40 - 43 sau Công nguyên
 
Nữ thần tướng Phùng Thị Chính
năm 40 sau Công nguyên[3]
 
Bà Phùng Thị Chính quê ở trang Phú Nghĩa, huyện Minh Nghĩa, phủ Quảng Oai, xứ Sơn Tây (xã Tuấn Xuyên, tổng Thanh Mai, huyện Tiên Phong, tỉnh Sơn Tây, ngày nay là thôn Tuấn Xuyên, xã Vạn Thắng, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) (Thôn Thanh Lãm, xã Phú Lương, huyện Thanh Oai và thôn Phú Nghĩa tục gọi Kẻ Sớm nay thuộc xã Phú Đông, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, naylà thành phố Hà Nội). Phùng Thị Chính con ông Phùng Văn Bổng, tổ tiên xưa xuất thân từ vùng đất Hoan Châu, di cư đến vùng đất xã Phú Nghĩa (huyện Minh Nghĩa, phủ Quảng Oai, xứ Sơn Tây) được hai đời, hòa nhập với xóm làng mà trở thành dân Phú Nghĩa và mẹ là người họ Hùng tên Tuyết người Phong Châu (nay đổi thành Bạch Hạc), bà có họ với bên ngoại Hai Bà Trưng, gọi bà Man Thiện thân mẫu Hai Bà Trưng là dì. Vợ chồng ông Bổng và bà Tuyết là người hiền lành, có tấm lòng nhân hậu. Gia thế có người là bậc hào phú, và theo nếp nho phong.
Thần tích ở đình chép rằng:Bà Phùng Thị Chính sinh ngày 10 tháng 4 năm Quí Dậu. Năm 19 tuổi mẹ mất (ngày mồng 2 tháng 11) chỉ còn cha. Bấy giờ giặc Hán là Tô Định làm Thái thú nước Nam, dân ta phải sống trong cảnh lầm than, bạo ngược, nhân dân vô cùng oán giận. Phùng Thị Chính kết duyên với Đinh Lượng (Đinh Lượng gọi Thi Sách bằng cậu), Đinh Lượng là bộ tướng của Thi Sách. Cuộc khởi nghĩa do Thi Sách chuẩn bị, Đinh Lượng là trợ thủ đắc lực và tin cậy của Thi Sách, khởi xướng bị bại lộ, cả hai cậu cháu cùng nhiều tướng lĩnh bị Thái Thú Tô Định sát hại.
Thù chồng, nợ nước, Phùng Thị Chính đã tham gia đạo quân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng và trở thành danh tướng xuất sắc, mặc dù lúc này bà đang mang thai, nhưng với ý chí quyết phục thù, bà thực hiện những cuộc trinh sát mưu trí, thông minh, dũng cảm, xuất quỷ nhập thần, lai vô ảnh khứ vô hình. Nhờ đó, Trưng Trắc hiểu hết được tình hình giặc, bà đã chỉ huy các cánh quân tiến thẳng đến thành của Tô Định, đại phá một trận tơi bời, quân Tô Định thua trận, bại hoại tán loạn, chém được hơn 1000 thủ cấp, Tô Định và tàn quân bỏ chạy về Nam Hải. Nghe tin hai bà thắng lợi, không những tất cả các quí tộc trong quận Giao Chỉ mà đến cả các nhà quí tộc ở các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng đều hưởng ứng. Hậu Hán thư, (Mã Viện truyện) chép rằng: “Các thứ sử và thái thú chỉ còn giữ được mình mà thôi”. Thứ sử bấy giờ cũng đóng ở Liên Lâu với Thái Thú Tô Định. Đuổi được quan lại và quân lính nhà Hán, TrưngTrắc chiếm lĩnh được 65 thành, thu giang sơn về một mối. Trưng Trắc tự xưng là Trưng Vương, phong em là Nhị Nương Bình khôi công chúa, cháu họ ngoại Phùng Thị Chính là Trưởng nội Thị nữ Tướng quân (tướng quân chỉ huy trông coi các nữ hậu cận), cùng với nam nữ các tướng khác, mọi người đều được phong thưởng. Trưng Vương lên ngôi vua, ở ngôi từ năm Canh Tý đến năm Giáp Dần. Đất Âu lạc xưa trở lại độc lập.
Năm 43, Vua Đông Hán sai Mã Viện là viên lão tướng có danh, được phong làm phục ba tướng quân cầm quân đi đánh Trưng Trắc. Cùng được sai phái với Mã Viện có Lưu Long làm phó tướng và Đoàn Chí làm Lâu Thuyền tướng quân. Mã Viện cất hàng vạn binh theo đường từ Hồ Nam xuống Quảng Tây và Quảng Đông, thẳng tới Hợp Phố là nơi mà quân Lâu Thuyền của Đoàn Chí phaỉ đến để cho quân thủy quân bộ phối hợp tiến vào Giao Chỉ xâm lược nước ta một lần nữa. Nhưng Đoàn Chí vừa đến Hợp Phố thì bị bệnh chết. Vua Hán hạ chiếu cho Mã Viện đem binh theo đường biển. Mã Viện đi qua Quảng Yên vào lưu vực sông Thái Bình vào nước ta. Mã Viện đem binh thẳng tới Lãng Bạc, rồi đến Tây Vu là căn cứ của An Dương Vương xưa kia, Mã Viện gặp phải sự kháng cự quyết liệt của nghĩa quân nên phải lui về Lãng Bạc. Tháng 3 năm 18 hiệu Kiến Vũ, tức tháng 4 năm 43, Tại Lãng Bạc đã diễn ra cuộc đại chiến giữa quân của Trưng Nữ Vương với quân của Mã Viện, cuộc chiến hai bên đã diễn ra hết sức khốc liệt, cam go và kéo dài nhiều ngày, nhưng do thế của giặc mạnh, Trưng Trắc và các tướng sĩ đã phải rút về Cấm Khê, Vĩnh Tường Vĩnh Yên. Mã Viện và Lưu Long đuổi theo nghĩa quân đến Cấm Khê, tại đây cuộc kịch chiến đã diễn ra, địch đã phá tan được nghĩa quân, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị không để mình rơi vào tay giặc đã tự trẫm mình ở sông Hát Giang.
Sau khi Trương Nữ Vương qua đời, nước ta lại rơi vào tay nhà Đông Hán. Phùng nương cùng với 6 gia binh trở về Tuấn Xuyên, lúc đó nhân dân gặp phải hạn hán, mất mùa, đời sống vô cùng cực khổ. Phùng nương trong người chỉ còn 7 hốt bạc, một áo gấm, bà đã ban cho dân để tránh nạn đói. Dân làng Tuấn Xuyên rất khâm phục và ái mộ Phùng nương, coi công lớn của bà như núi Thái Sơn, như nước sâu sông Hoàng Hà, Ân rủ muôn đời. Sau khi Phùng Nương hóa, dân làng Tuấn Xuyên đã xây đình, tôn bà làm Thành hoàng làng Tuấn Xuyên. Trải các đời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 349 năm, cho đến nước Nam ta trải các triều Đinh, Lê, Lí, Trần, 4 họ khai mở cơ đồ to lớn, Phùng Nương thường rất hiển linh thiêng, hiển ứng giúp nước cứu dân. Trải qua các đời, các bậc đế vương đều bao phong mĩ tự, chuẩn cho hưởng huyết thực đến muôn đời, hương khói không bao giờ dứt.
Đến niên hiệu Hồng Đức (1470 - 1497) triều Lê cải nguyên liền bao phong mĩ tự Vạn cổ Phúc Thần cùng trường tồn với đất nước, muôn đời giữ thể thức. Đức của Thần thịnh thay!
Phong cho Phùng Thị Chính Đại Khánh Tiết Anh Linh Công chúa, cho phép dân xã Tuấn Xuyên được làm dân Hộ nhi, dân sở tại phụng thờ.
Ngày sinh của Thần là mồng 10 tháng 4.
Ngày hóa của Thần là ngày mồng 6 tháng 9.
Hiện nay, ở tổ dân phố 1, phường Phú Lãm, quận Hà Đông thành phố Hà nội còn có đền Thanh Lãm nằm trên khu đất rộng gần 5000m2. Qui mô kiến trúc: Kiến trúc theo chữ Đinh, gồm tòa đại bái và hậu cung. Công trình được xây dựng lâu đời, khoảng năm Dương Đức Tam niên ngũ nghiệt cách ngày nay khoảng 352 năm. Công trình được trùng tu tôn tạo năm 2016. Đền Thanh Lãm còn được gọi là miếu Linh Tiên, được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 608/QĐ-BVHTT ngày 29 tháng 5 năm 1989. Đền thờ Trưởng nội thị tướng quân Phùng Thị Chính, tôn bà làm Thành Hoàng làng, hằng năm tổ chức lễ hội tưởng nhớ công ơn người nữ anh hùng dân tộc.
 
 
Nữ Thần Tướng Phùng Vĩnh Hoa -
Nội Thị Tướng Quân Vĩnh Hoa Công Chúa
(Nguồn: Travel Trang du lịch; Sách họ Phùng tập IV,sách Danh thần danh nhân họ Phùng đất Việt.NXBLĐ. Năm 2011)
 
Ở trang Mao Điền phủ Thượng Hồng đạo Hồng Châu tỉnh Hải Dương có gia đình họ Phùng sinh ra người con gái đặt tên Vĩnh Hoa.
Thuở nhỏ, Vĩnh Hoa ham học, say mê võ nghệ, thông thạo cung kiếm, lại là cô gái xinh đẹp.
Ở tuổi “bẻ gẫy sừng trâu” Vĩnh Hoa chuyển đến sinh sống ở trang Tiên Nha, huyện Yên Lạc, phủ Tam Đới, đạo Sơn Tây (nay là thôn Nghinh Tiên, xã Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc). Nơi đây dân đông, chợ lớn, đường thủy, đường bộ thuận tiện giao lưu bạn bè, liên kết hào kiệt, tụ nghĩa những người cùng chí hướng. Thanh niên trai tráng nghe tin về Vĩnh Hoa, mọi người đến với bà ngày một đông, bà mở rộng trang ấp, ngầm rèn đúc vũ khí, tích trữ lương thảo...chờ thời. Thanh thế trang Tiên Nha ngày một lừng lẫy vang xa. Giặc Hán lo sợ đem quân đến đánh nhưng không dẹp nổi.
Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, Phùng Vĩnh Hoa kéo quân đến Hát Môn theo Hai Bà Trưng, được Bà Trưng phong làm “Nội Thị Tướng Quân” ở đạo Trung quân dự bàn mọi việc.
Bà cùng các tướng lập công lớn, đánh tan tác quân Thái Thú Tô Định, quân ta toàn thắng, thu hồi 65 thành trì. Sau thắng lợi Bà Trưng lên ngôi vua. Bà Trưng đã phong cho Vĩnh Hoa làm “Nội Thị Tướng Quân Vĩnh Hoa Công Chúa”. Sau đó được Bà Trưng cho về trấn giữ, mở mang căn cứ, lập đồn chính ở trang Tiên Nha, đồn thứ ở làng Trung Hà.
Ba năm sau Mã Viện đem quân tiến thẳng đến Mê Linh xâm lược nước ta, trước sức mạnh của quân địch, nghĩa quân không thể chống nổi, Hai Bà Trưng đã hy sinh. Không để mình lọt vào tay giặc, Bà Vĩnh Hoa đã trẫm mình tuẫn tiết vào ngày 14 tháng 9 năm Quí Mão (năm 43 sau Công Nguyên). Ghi nhớ công ơn Bà, vị nữ anh hùng dân tộc đã vì nước quên thân, nhiều nơi đã lập đền thờ Bà:

  • Đền làng Tiên Nha, thôn Nghinh Tiên, xã Nguyệt Đức, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đền làng Vị Nội, xóm Vinh Quang, thôn Vị Thanh, xã Thanh Trù, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đình thôn Một, xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đình làng Trung Hà, xã Tiến Thịnh, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Đình làng Trung Hà xã Trung Châu, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội.

Ngài được thờ làm thần Thành Hoàng của ba làng Trung Hà. Đền thờ Ngài ở thôn Nghinh Tiên được gọi là Đền Vĩnh Hoa. Đền thờ Ngài ở làng Vị Nội được gọi là Đền Bà hoặc Đền Trinh Uyển.
Ngài được các triều đại nước ta phong là: Thượng Đẳng Thần Liệt Hầu Công Chúa; Vĩnh Hoa Nương Linh Hiển Hầu Công Chúa; Tế Thế Hậu Quốc Đại Vương; Bản Cảnh Thần Hoàng Linh Phù; Hoằng Hiệp Thần Hoàng Linh Phù; Trinh Uyển Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần.
Vua Lê Đại Hành đã ban sắc: ”Vĩnh Hoa nương linh hiển nữ quốc Công chúa”, năm sau lại ban sắc “Hằng Nga Uyển mị trinh thục, phu nhân tôn thần”.
Năm 1430, Lê Thái tổ ban sắc: “Đức hạnh đoan trang trinh tiết phu nhân”.
Năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624), vua Lê Thần Tông ban sắc “Tế thế hộ quốc Đại vương, anh linh hiển ứng đại vương”.
Năm 1880 vua lại tiếp tục ban sắc “Hoằng hiệp thành hăng linh phù”.
Năm 1891 vua Đồng Khánh Ban sắc “Dực bảo trung hưng”.
Khải Định năm thứ 2 (1917) ban sắc “Trinh uyển dực bảo trung hưng tôn thần”. Vì thế Đền Bà ở làng Tiên Nha có tên chữ là “Trinh uyển linh từ”. “Đền Bà” có từ thời tiền Lê 1027.
 
 
Hai nữ tướng Phùng Thị Tú và Phùng Thị Huyền[4]
(thường gọi là Ả Tú và Ả Huyền)
(Nguồn: Chân dung nữ tướng anh hùng Việt Nam các thời đại.
NXB Lao động - Hà Nội - 2009).
 
Dưới thời Bắc thuộc lần thứ nhất, thời Đông Hán, ở trại Vân Thủy thuộc đất Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc có vợ chồng ông Phùng Liệt và bà Phạm Thị Tư sinh được hai gái là: Phùng Thị Tú và Phùng Thị Huyền, thường gọi là Ả Tú, Ả Huyền. Khi hai bà trưởng thành cũng là lúc giặc Đông Hán cướp của giết người, cuộc sống của nhân dân ta rất lầm than. Được tin Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn, cả hai bà Tú và Huyền tập hợp lực lượng tụ nghĩa với Hai Bà Trưng. Bà Tú và Bà Huyền giỏi võ nghệ, tài điều binh, khiển tướng, cả hai bà được Hai Bà Trưng giao chỉ huy một đội quân đánh chiếm một trong các thành trì của giặc Đông Hán. Khởi nghĩa thắng lợi, bà Trưng Trắc lên ngôi vua, hai bà tiếp tục phục vụ trong quân đội. Đầu năm 43, Mã Viện đem quân sang cướp nước ta, hai bà đã tham gia chiến đấu ở Lãng Bạc, trong cuộc chiến ở Cấm Khê, cả hai bà đã anh dũng hy sinh vào ngày 2 tháng chạp. Thương tiếc và cảm phục tài năng, lòng dũng cảm của hai bà, dân làng đã lập đền thờ hai bà tại trại Vân Thủy. Do hiện tượng sông Hồng lở, dân làng phải chạy lở, trại Vân Thủy di dời từ Tả Ngạn sông Hồng sang Hữu ngạn sông Hồng, lập ra sáu xóm, sau này các xóm thành các làng Vĩnh Phúc, Vĩnh Thọ, Vĩnh Khang, Vĩnh Ninh, Vĩnh Thuận, Vĩnh Lộc. Sáu làng trên hiện nay hợp thành hai xã: Là xã Vân Nam, và xã Vân Phúc thuộc huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Hiện nay các làng đều thờ hai vị nữ tướng anh hùng Ả Tú và Ả Huyền ở đền làng. 15
 
Các bà mẹ họ Phùng sinh vương, tướng
(Nguồn: Sách họ Phùng Việt nam tập IV)
 

  • Vợ chồng cụ bà Phùng Thị Lan và cụ ông Trương Long

Hai cụ quê làng Đường Lâm, Sơn Tây hai cụ sinh hai người con trai văn võ kiêm toàn, được Bà Trưng phong làm Đô Chỉ huy sứ Điện tiền phụ chính.
Trong trận đánh nhau với Mã Viện ở Lãng Bạc hai Ngài đã hy sinh. Dân thôn Hà Hào, làng Hà Vỹ, tổng Hà Lỗ, phủ Từ Sơn Bắc Ninh đã lập đền thờ hai Ngài.

  • Vợ chồng cụ bà Phùng Thị và cụ ông Hướng Loan

Hai cụ quê ở Long Biên sinh con trai đặt tên là Hướng Thiện. Ông Thiện có sức khỏe hơn người, giỏi võ nghệ. Ông theo Hai Bà Trưng đánh giặc Hán. Sau thắng lợi, Bà Trưng Trắc lên ngôi vua, thu 65 thành trì, ông Hướng Thiện được nhà vua cho làm Điện tiền chỉ huy sứ.

  • Vợ chồng cụ bà Phùng Thị Tam và cụ ông Hoàng Lãng

Cụ ông quê ở châu Hoan, cụ bà quê làng Hạ Hiệp, Quốc Oai Hà Nội, sinh con trai là Hoàng Đạo, văn võ kiêm toàn, sức khỏe hơn người. Ngài chiêu tập trai tráng quanh vùng thành đạo quân tụ nghĩa dưới cờ Hai Bà Trưng. Ngài được Bà Trung phong làm tướng tiên phong. Sau thắng trận, Ngài được phong làm Thượng Sỹ, trấn giữ cả vùng sông Đáy và vùng đất quê nhà. Ba năm sau ngài hy sinh trong trận kịch chiến với quân Hán ở vùng Quan Dâu. Ngài được thờ làm thần Thành Hoàng của các làng Hạ Hiệp, Hiệp Lộc, Yên Dục huyện Quốc Oai, Hà Nội.
 

  1. Bắc thuộc lần thứ hai chống lại cuộc xâm lược của nhà Lươngnăm 544 - 548

 
Hữu tướng Phùng Thanh Hòa
Thế kỷ VI (544 - 548)[5]
“Phùng Thanh Hòa sinh ngày 12 tháng 11 năm Mậu Thân (tức ngày 8/12/528) ở trang Hồng Vinh, quận Nam Xương nay thuộc huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Bố là Phùng Thủy, mẹ là Hoàng Thị Mai. Ông bà ăn ở phúc đức, hiền lành, gia tư thuộc hạng trung lưu, hay làm việc thiện nên được thiên thần phù hộ sinh ra ngài” (Thần phả đình làng Phùng Xá, Thạch Thất, do Tiến sĩ Nguyễn Bính thế kỷ 17 biên soạn).
Năm Tân Dậu (541) Lý Bí phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Lương, đuổi được thứ sứ Tiêu Tư, chiếm giữ thành Long Biên. Phùng Thanh Hòa triệu tập nghĩa sĩ trong vùng đứng lên hưởng ứng. Tháng Giêng năm Giáp Tý (544) Lý Bí lên ngôi vua tức Lý Nam Đế, lập ra nước Vạn Xuân, lấy phiên hiệu là Thiên Đức. Quân nhà Lương lại cho Dương Phiêu và Trần Bá Tiên đem quân sang đánh trả thù. Vua Lý Nam Đế bị vây hãm ở thành Gia Ninh. Thế giặc rất mạnh, ngày 11 tháng 8 năm Bính Dần (546) Phùng Thanh Hòa được vua Lý Nam Đế phong Hữu tướng quân, ông đem quân giải vây, cứu vua Lý cùng Tả tướng quân Triệu Quang Phục ở hồ Điển Triệt.
Đại Việt sử ký toàn thưchép: “… Mùa thu tháng Tám, vua Lý Bí cùng các tướng đem 2 vạn quân từ trong đất lão ra đóng ở hồ Điển Triệt, đóng nhiều thuyền bè chật kín cả mặt hồ. Quân lương sợ không giám tiến vào”.
 “… vua thoát khỏi vòng vây rút về động Khuất Lão”. Tháng 4 năm 548 vua lý Nam Đế mắc bệnh qua đời. Triệu Quang Phục rút về căn cứ Dạ Trạch - Hưng Yên, xưng là Triệu Việt Vương. Phùng Thanh Hòa lui về lập nghiệp ở An Hoa Trang, nơi có phong cảnh hữu tình, là miền đất linh thiêng, nhân dân hiếu thuận.
An Hoa cổ truyền lưu hiệu
Phùng Xá tân thừa cải Việt danh.
Sau 2 năm, ngài chiêu tập dân ở các vùng lập ấp, mở mang làng xóm, lấy vợ sinh con, rồi hóa ở Phùng Xá vào ngày 15/8 năm Kỷ Tỵ (22/9/549). Nơi ở của Ngài hiện nay, là đình làng, tại đình có bài vị, sắc phong, câu đối, hoành phi, kiệu, tán vọng thờ ngài.
 “Tích nhật An Hoa kim Phùng Xá
Công minh Tiền Lý hiển lê Thì”.
“Phụ Tiền Lý, kiến độc lập kỳ - thống nhất sơn hà tôn đế quốc
Chuẩn Phùng thôn, vi phụng tự sở - thiên thu miếu mạo phúc cư dân”.
Đặc biệt, tại đình còn giữ được cuốn thư bằng gỗ sơn son thếp vàng có từ lâu khắc bằng bài thơ ngũ ngôn chữ Hán như sau:

 Phiên âm :
 Anh linh trường hách hách
 Chính khí tự nguy nguy
 Ba cổn chương thần hóa
 Sơn hà kỷ thánh uy
 Công minh Tiền Lý sử
 Tích hiển Hậu Lê thì
 Phúc tái đồng thiên địa
 Hồng ân vạn cổ thùy.
 Lược dịch:
 Trong sáng anh linh mãi
 Chính trực khí tiết sang
 Sóng nước thần làm được
 Non sông rạng ngời uy
 Công lớn thời Tiền Lý
 Thời hậu Lê càng hiền rõ
 Cùng đất trời phúc mãi
 Muôn đời ghi ân sâu
 

 

  1. Bắc thuộc lần thứ ba chống lại cuộc xâm lược của nhà Đường năm 618 - 791

 
Quan Châu mục Phùng Trí cái (năm 618)
 
Phùng Trí Cái, Quan Châu mục châu Đường Lâm cụ tổ bảy đời của Bố Cái Đại vương Phùng Hưng. Cụ từng được vời vào trong cùng nhà Đường cao tổ đời Đường Vũ Đức (618 - 626) dự yến tiệc. Vua Đường biết rõ tài năng, uy tín của cụ với dân nên tìm cách dụ dỗ, lôi kéo cụ làm quan trong bộ máy cai trị nhà Đường để phục vụ mưu đồ thống trị của vua Đường. Cụ đã khảng khái từ chối khéo bằng cách từ quan về trí sĩ tại quê nhà Đường Lâm. Cụ mở mang điền trang thái ấp, hướng dẫn dân khai điền canh tác lao động làm ra của cải, phòng chống thiên tai lũ lụt, tiêu diệt thú dữ, bảo vệ mùa màng, đem lại cuộc sống ấm no cho dân

  • Phùng Trí Cái mất, con là Gia Cái nối dõi.
  • Gia Cái chết, con là Yết Năng nối dõi.
  • Yết Năng chết, con là Kiều Năng nối dõi.
  • Kiều Năng chết, con là Kiến Khởi nối dõi.
  • Kiến hởi chết, con là Hạp Khanh nối dõi.
  • Hạp Khanh chết, con là Phùng Hưng nối dõi.
  • Phùng Hưng chết, con là Phùng An nối dõi.

 
Như vậy, kể từ Phùng Trí Cái đến cháu đời thứ 8 là Phùng An, tổng cộng trên dưới 200 năm.
 
 
Tướng quân Phùng Hạp Khanh (năm 722)
 
Phùng Hạp Khanh là cháu đời thứ sáu của Phùng Trí cái. Ông là thân phụ của ba anh em Phùng Hưng, Phùng Hải, và Phùng Dĩnh. Hạp Khanh là người hiền tài, đức độ. Khoảng năm Nhâm Tuất (722) niên hiệu Khai nguyên, đời vua Huyền Tông nhà Đường, ông đứng lên chiêu mộ nghĩa quân tham gia cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan (Mai hắc Đế) người Châu Ái phất cờ khởi nghĩa.
Việc bị phát giác, ông bị cách chức quan, rồi trở về làng làm ruộng, Hạp Khanh thường phiền muộn không vui, bà vợ ông là người họ Sử thầm biết được ý ông, bèn khuyên rằng: “Bậc trượng phu ở trong đời băn khăn gì cảnh ngộ chìm nổi. Việc chưa thành đạt là tự số trời. Nếu cứ u uất buồn phiền chỉ tự làm hao tổn chí khí bình minh. Chẳng gì bằng cứ giữ vững tinh thần, mở mang phương tiện. Nên khuôn phép cho người sau theo. Nối chí lớn của người trước, mở rộng qui mô để dài hưởng ngày trời, ít nhất cũng cho một nhà được toại nguyện, đỡ lo lắng triền miên, giữ được tương lai cho gia đường, lại chẳng đã tốt lắm sao”. Từ đó Hạp Khanh dốc sức chăm bón ruộng vườn, chính mình làm nghề nông, chỉ qua mấy năm đã rất giàu có, gia tài tích lũy đến hàng trăm, hàng triệu, dưới cửa thường có mấy nghìn nô tì ra vào. (Lời dẫn của PGS TS Trần Thị Vinh trong sách “Bảo tồn bảo tàng và xây dựng...trang 184”).
Phùng Hạp Khanh có người vợ họ Sử, hai ông bà sinh một lần được 3 người con trai, diện mạo đều khác thường, đến khi lớn ba người con đều mạnh, có sức khỏe vật trâu, bắt hổ, ông bà đặt tên cho con trưởng là Hưng Tự Công Phấn, người con thứ hai là Hải tự là Tử Hào, người con thứ ba là Dĩnh tự Danh Đạt. Ba người con của ông nối chí lớn của cha ông sau này trở thành anh hùng giải phóng dân tộc.
 Phùng Hạp Khanh là người có công với dân với nước, ông được nhân dân Đường Lâm và các vùng xung quanh rất tin tưởng và mến mộ,về già, khi hóa về trời, ông đã trở thành điểm tựa tinh thần cho nhân dân Đường Lâm và nhân dân các vùng xung quanh.
 
 
Anh hùng giải phóng dân tộc -
Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng 764 -791
(Nguồn: Việt Điện U - Ninh tập Phùng Bố Cái Đại vương tuyện)
 
Theo Trần Triều Đại Tàng Thủ Thái chính trưởng Trung Phụng ngự An Việt La lộ chuyển vận Lý Tế Xuyên tập.
Bảng Nhỡn Thái sư Quan
Lê Văn Hưu kiêm lễ bộ bạ hồng đồ chủ cát thị tập.
Đến Nguyễn Triền Thành Thái năm thứ năm Quý Tỵ 1893 ngày 28 tháng 11.
Triều Khúc Tú Tài Giang Nguyên Thi sao lục tại xã Vân canh nhà ông Đốc học Bùi Xuân Nghi tàng bản.
Mùa Xuân Canh Ngọ 1990 môn sinh Đỗ Đình Thể sao lại và biên dịch.
Trọng Thu năm Ất Hợi, ngày 20 tháng 8 nhuận (13 - 10 - 1995) hậu duệ Giang Nguyên Ngọc chép lại và chú giải.
Mùa Xuân Giáp Thân 2004, Cai Đám Triệu Khăc Sâm in tái bản y nguyên bản chính và lưu giữ tại Đình Thờ Sắc).
Phùng Hưng tên chữ là Công Phấn, xuất thân từ dòng dõi hào kiệt, đời đời làm quan ở Đường Lâm thuộc Giao Châu.
Tổ tiên Phùng Hưng là Phùng Trí Đới (theo bản chép của Bộ Lễ thời nhà Lý: Có nơi ghi là Phùng Trí cái) trong thời Vũ đức nhà Đường vâng chiếu chỉ vào chầu, hầu yến tiệc. Vua Đường Cao Tổ sai vịnh thơ cùng với sứ Đột Quyết hầu tiệc để cho tiếng nói của người Hồ người Việt hợp lại một nhà (Đột Quyết là một dân tộc nhỏ ở phía Bắc Trung Quốc, xưa thường gọi là nhà Hồ).
Khi Phùng Trí Đới chết, con là Gia Cái nối dõi. Gia Cái chết, con là Yết Năng nối dõi. Yết Năng chết, con là Kiều Năng nối dõi. Kiều Năng chết, con là Kiến Khởi nối dõi. Kiến Khởi chết, con là Hạp Khanh nối dõi.
Năm 18 tuổi cha mẹ chết cả, ba anh em đều thuận hòa, hiếu kính, giúp đỡ mọi người, làm nhiều đều ân nghĩa, nên được nhân dân yêu mến.
Năm Đinh Mùi niên hiệu Đại Lịch nhà Đường ở Châu thành xảy ra vụ cướp phá của Côn Luân. Đồ Bá Vũ Đình Úy là Cao Chính Bình đánh dẹp được. Từ ấy Chính Bình chuyên quyền ra oai, đàn áp. Dân ta vô cùng cực khổ. Vua Đường bèn sai Trương Ứng Kế sang làm kinh lược sứ An Nam để an dân. Chính Bình lo Ứng Kế giành quyền bèn cho người ám sát Ứng Kế. Bọn tay chân của Ứng Kế là Nguyên - Khánh Hồ - Hoài - Nghĩa bí mật tìm đến Phùng Hưng để bàn và hợp quân đánh chiếm các quận ấp... Chính Bình vội báo về vua Đường. Vua Đường đã sai Lý Phục làm Tiết Độ Sứ đem quân sang đánh dẹp. Bọn Hoài Nghĩa - Khánh đều bị Lý Phục giết chết. Lý Phục tuyên dụ dân chúng, tu sửa thành quách, rồi dẫn quân về phương Bắc phục mạng.
Phùng Hưng cùng các tướng lĩnh rút về Đường Lâm làm nơi căn cứ địa, khôi phục lại binh sĩ, củng cố thành lũy...Uy danh ngày càng lớn. Chính Bình đem quân đến dẹp, nhưng không thắng nổi, cuộc chiến giành độc lập tự chủ kéo dài 25 năm.
(Sự nghiệp hào hùng của vua Bố cái sẽ được trình bày ở phần sau.)
 
 
Phùng Thị Thảo - chị gái Bố Cái Đại vương
(Nguồn: Thần phả Đền Dục Anh, đình Hòa Mục phường Trung Hòa,
quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội; Sách Danh thần danh nhân họ Phùng đất Việt NXBLĐ. Năm 2011)
 
Bà quê làng Cam Lâm, Đường Lâm, Sơn Tây Hà Nội. Bà kết duyên cùng ông Phạm Huyên quê Nam Xương Thọ Xương. Hai ông bà sinh một lần được ba người con. Người con gái lớn đặt tên Phạm Thị Ngọc Uyển, hai em trai tên là Phạm Miện và Phạm Huy. Phạm Thị Ngọc Uyển gọi Phùng Hạp Khanh là ông ngoại, gọi Bố Cái Đại Vương là cậu ruột. Phạm Thị Ngọc Uyển sau này kết duyên cùng Mai Thúc Loan. Khi Mai Thúc Loan xưng Đế, bà trở thành hoàng hậu. Trong cuộc quyết chiến với giặc Đường bà đã chỉ huy thủy quân đánh lại quân Đường trên dòng sông Tô Lịch.....Bà đã anh dũng hy sinh.....dân làng Xuân Hòa Nhân Chính đã dựng đền thờ bà ngay bên bờ sông Tô Lịch...Hai em trai bà là Phạm Miện và Phạm Huy sau này cũng là tướng của cậu - Bố Cái Đại vương Phùng Hưng đánh nhau với quân Đường. Sau thắng lợi, hai anh em về lập làng tại Xuân Hòa, sau này dân làng đã lập đền thờ hai anh em tại làng Xuân Hòa Nhân Chính quận Thanh Xuân thành phố Hà Nội. Đền Dục Anh và đình Hòa Mục đều là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
 
Phùng Thị Trinh - chị gái Bố Cái Đại vương
(Nguồn: Sách nhân vật lịch sử Hải Phòng. Tr45. NXBHP. Năm 2000; Thần phả Đình Đồng Tử phường Bắc Hà, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng)
 
Đình Đồng Tử phường Phù Liễn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng thờ Phùng Thị Trinh và ba người con của bà là Trương Phán, Trương Dị, Trương Thanh.
Theo thần tích và tương truyền trong làng, Trương Đồng Tử người làng Đồng Tử, huyện An lão (nay là phường Phù Liễn, quận Kiến An, thành phố Hải Phòng), ông là người chính trực, trung hậu. Ông kết duyên cùng bà Phùng Thị Trinh, là chị gái Phùng Hưng, người Đường Lâm, xứ Sơn tây. Bà Phùng Thị Trinh đã có thai, sinh một lần được 3 con trai. Ông đặt tên cho con là Trương Phán, Trương Dị, Trương Thanh. Ông bà hết lòng nuôi dạy 3 con, cho con học cả văn lẫn võ. Khi Phùng Hưng phất cờ khởi nghĩa đánh bọn đô hộ nhà Đường Cao Chính Bình, Phùng Hưng giao cho bà Phùng Thị Trinh vận động dân vùng ven biển Kiến Thụy, An lão, An Dương và tập hợp lực lượng, cất giữ lương thảo… Khởi nghĩa nổ ra, bà Phùng Thị Trinh đã cùng ba người con đem cánh quân ở vùng xứ Đông ứng nghĩa. Phủ đô hộ bị vây hãm, Cao Chính Bình lo sợ phát bệnh mà chết, Phùng Hưng vào phủ Tống Bình lo việc cai trị đất nước và lên làm vua. Nhân dân tôn xưng ông là Bố Cái Đại vương. Nhà vua đã ban cho bà Phùng Thị Trinh là công chúa, dân tôn kính gọi là Đức bà, cho ba anh em họ Trương đều có quan tước. Sau khi Phùng Hưng mất, Trương Phán, Trương Dị, Trương Thanh tiếp tục giúp Phùng An và cả ba đều hy sinh vì đất nước. Nhân dân phường Phù Liễn đã lập đình Đồng Tử thờ cả bốn mẹ con. Hiện nay ở quận Kiến An, thành phố Hải Phòng có phố Phùng Thị Trinh. Đình Đồng Tử là Di tích lịch sử văn hóa cấp thành phố.
 
 
Phùng Thị Tịnh Phong
( Nguồn: Sách họ Ngô Việt Nam. Tr. 356 - 357. NXBTT Năm 2018)
 
Cụ Ngô Đình thực là hào trưởng, sinh ra ông Ngô Mân làm Châu Mục ở Phong Châu thời Khúc Thừa Hạo làm Tiết độ sứ. Bà Phùng Thị Tịnh Phong quê ở Đường Lâm Sơn Tây, thuộc dòng dõi Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng. Bà đã kết duyên cùng ông Ngô Mân là quan châu mục ở châu Đường Lâm. Ông bà đã sinh ra Ngô Quyền và Ngô Tịnh (Ngô Tịnh sau này làm trấn thủ Kỳ Hoa - Kỳ Anh).
Ngô Quyền sinh ngày 12 tháng 3 năm Đinh Tỵ (879), mất ngày 18 tháng Giêng năm 994 thọ 47 tuổi. Mộ táng ở thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, Sơn Tây, Hà Nội. Ông là người anh hùng dân tộc đánh thắng quân Nam Hán trên dòng sông Bạch Đằng lịch sử vào năm 938 mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc.
 

 


[1]- Thần tích Miếu Ba vua, thôn Nhân Giả, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
 - Nhân vật lịch sử Hải Phòng - tập 1. NXB Hải Phòng - 2000.
 
 [3] - Theo thần tích xã Tuấn Xuyên, tổng Thanh Mai, huyện Tiên Phong tỉnh Sơn Tây.
 - Sách Chân dung nữ anh hùng Việt Nam các thời đại. Nxb Lao động - Hà Nội - 2009.
 - Sách Danh thần danh nhân họ Phùng đất Việt. Tập 1 - Nxb Văn hóa Thông tin năm 2009.
 - Sách Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ 19. Đào Duy Anh, NXBVHDT tr. 105-109
 - Nữ tướng Phùng Thị Chính, vị tướng giỏi của Hai Bà Trưng. Họ Phùng tập 5.tr.25-26. TS Nguyễn Thy Nga.
1- Chân dung nữ tướng anh hùng Việt Nam các thời đại. NXB Lao động - Hà Nội - 2009.
 - Danh thần danh nhân họ Phùng đất Việt tập 1 - NXB Văn hóa Thông tin - 2009.
[5]. Đại Việt Sử ký Toàn thư, tập 1 trang 253-254, NXb Khoa học Xã hội - Hà Nội - 1998.
 - Thần tích và Bia đình làng Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội.