(Thứ ba, 24/02/2026, 03:48 GMT+7)

NGÔN CHÍ THI TẬP
(Tập thơ Ngôn chí)
phần 1

 

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan

 

 

Ngôn chí thi tập à tên tác phẩm do chính tác giả đặt ra và ghi lại trong lời Tựa. Ngôn chí thi tập theo từng năm mà viết ra, cứ 10 năm thì đóng thành tập, kể từ năm 16 tuổi đến năm 86 tuổi phải có tới 7 tập, nhưng tác phẩm hiện chỉ còn đến cuối tập V, lúc tác giả chừng 60 tuổi. Tổng tất cả thơ Ngôn chí còn lại khoảng hơn 240 bài. Mấy trăm bài thơ trong tập Ngôn chí được viết trong thời gian gần 50 năm, từ thuở thiếu thời đến buổi vãn niên. Nội dung của tập thơ trải ra trên mọi mặt sinh hoạt, tâm trạng, hành vi, lý tưởng trong gần suốt cuộc đời tác giả. Tập thơ vừa có tính chất kỷ sự, vừa có tính chất trữ tình. Có thể xem đó là tiếng nói chân thành và trung hậu của một sĩ đại phu có tâm huyết, hoài bão, có niềm ưu ái và lòng yêu nước thương đời.
Thơ tuyển chọn những bài tiêu biểu.

 
 
 
ĐỀ NGÔN CHÍ THI TẬP TỰ([1])
(Bài tựa đề tập thơ Ngôn chí)
 
 
Này việc học thơ, từ xưa đến nay vẫn lấy làm chuộng, nguồn gốc từ việc canh ca ở triều đình nhà Ngu, truyền bá ở những tập thơ Nhã đời Chu, rồi thể chế mới biểu lộ ở thơ ngũ ngôn đời Hán, đến đời Đường có thơ thất ngôn thì âm vận mới réo rắt hòa hợp. Mà cái gọi là thơ thì không phải là láu lưỡi trong tiếng sáo, chơi chữ dưới ngòi bút thôi đâu, mà là để ngâm vịnh tính tình, cảm động mà phát ra chí ý nữa. Thế cho nên nếu chí mà ở đạo đức thì tất là phát ra lời lẽ hồn hậu, chí mà ở sự nghiệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối gò hang thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thích vẻ thơ thanh cao, chí ở nỗi uất ức thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì làm ra điệu thơ ai oán. Cứ xem thơ người xưa thì có thể thấy chí người xưa ngay vậy. Như vua Đường Tuyên Tông lúc còn hàn vi, làm thơ vịnh suối thì rằng: “Khe ngòi há có thể giữ được nước lại, nước vừa ra đến biển lớn thì nổi lên thành ba đào ngay”. Xem lời thơ này thì tất là có thể biết cái chí lớn làm cho bốn biển sạch không giặc giã. Tống Thái Tổ lúc còn ít tuổi, làm thơ vịnh mặt trời thì rằng: “Khi chưa trồi lên trên mặt biển thì nghìn núi còn tối tăm, vừa mới lên giữa trời thì vạn quốc sáng sủa”. Xem lời thơ này thì tất thấy được cái chí quét sạch mây mù. Với câu thơ: “Mặt trời ngô đồng chiếu vào trong lòng, gió dương liễu thổi vào mặt”, thì chí của Thiệu Tử thanh cao như lầu gác giữa trời. Với câu thơ: “Giàu sang mà không thái quá, nghèo mà lại vui”, thì chí của Trình Tử đầm ấm như gió xuân quanh chỗ ngồi. Qua câu thơ: “Rễ ăn sâu xuống chín suối mà không chỗ nào cong, ở chỗ ấy chỉ có con rồng nằm ẩn biết mà thôi”, thì người đời thường chỉ thấy là vịnh cây cổ thụ, mà không thấy cái chí ẩn dật đã rõ ràng ở ngay đấy. Qua câu thơ: “Khi chưa ra khỏi đất, trước đã có từng đốt, vừa mới vươn lên đến sát từng mây thì lại vô tâm”, thì người đời thường chỉ biết là vịnh cây trúc mới mọc, mà không biết rằng cái chí thanh cao đã hình thành ở đấy rồi. Vịnh câu thơ: “Chỉ có trời ở trên cao, chẳng có núi nào sánh tày”, thì cái chí của Hàn Trĩ Khuê là bậc đại thần đá trụ, không phải đợi hai lần định ra sách lược lớn rồi mới biết được. Đọc lời thơ: “Chưa hỏi đến việc điều hòa vị canh cho vừa miệng, trước hãy hướng về trăm hoa nở”, thì việc Vương Hiếu Tiên đỗ Trạng nguyên, làm Tể tướng không đợi phải sau khi ba lần đỗ đầu mới nghiệm thấy vậy. Ngoài ra, những bậc phun châu nhả ngọc, bày gấm phô vóc mà rong ruổi trong làng thơ thì không thể một hai kể hết được. Người xưa làm thơ thường là để tỏ chí như vậy. Nếu không phải có tài cao, có lời nói cổ, thì sao lại đủ để theo gót các bậc tiền bối vậy ru.
Ta đối với thơ, vốn thường có chí, tự xét tài không cao bằng người xưa, lời không tinh bằng người xưa, ở cõi đời chưa đủ để bình luận nhân vật xưa nay, ở cõi âm chưa đủ để kinh động quỷ thần, chỉ đem cái học kém cỏi bo bo, lời nói vụng về xốc nổi thì sao đủ đi tới chỗ thơ hay mà dự vào hạng nguyên súy ở Tao đàn kia chứ? Tuy cái học hàng ngày tất nhiên là chưa từng lập được chí lớn, nhưng cái điều mà chí phát ra cũng có khi hiện ra ở thơ. Hết thảy những điều có được trong ngâm vịnh, tuy chưa đủ theo đuổi các nhà thơ hay một phần trong muôn phần, nhưng cái chí bình sinh cũng thấy rõ ở đấy. Xem những tập thơ của cổ nhân, trộm muốn vụng dại bắt chước, nhân thế mới đem những bài thơ tự mình viết ra lúc bình nhật, tập hợp mà soạn lại, tên gọi là Tập thơ ngôn chí, ấy cũng chỉ là để nói cái chí của riêng mình mà thôi, há dám làm những lời lẽ khoe khoang để cho các nhà thơ mai mỉa. Ấy thế là quên ngay sự cũ kỹ hủ lậu của mình, cứ theo từng năm mà chép ra, kể từ năm 16 tuổi trở lên, để ghi lại cái thời chí để vào việc học. Cứ mười năm thì đóng thành một quyển để xem trình tự của việc học tiến tới như thế nào. Các bậc quân tử bác nhã hãy tha thứ cho cái tội ngông cuồng, dìu dắt mà dạy bảo cho để nên được cái chí, thì là một điều may mắn lớn cho tôi vậy.
Tháng Mạnh thu, năm Bính Tuất (1586), niên hiệu Quang Hưng năm thứ chín([2]).
Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1580), công thần Kiệt tiết tuyên lực, đặc ân được là Kim tử vinh lộc đại phu, làm chức Tán trị Thừa chánh sứ ty các xứ Thanh Hoa, người ở Thạch Thất, tên là Phùng Khắc Khoan, tự là Hoằng Phu, hiệu là Mai Nham tử đề Tựa.
Đinh Gia Khánh dịch
 
 
 
自 述 二 首
時 蓋 癸 丑 十 六 歲 也
其 一
 
自 覺 年 方 志 學 秋
功 名 欲 遂 每 勤 劬
家 藏 活 計 書 其 寶
力 代 耕 鋤 筆 是 奴
遇 事 處 隨 中 道 合
致 身 必 出 正 途 由
男 兒 自 有 顯 揚 事
肯 作 昂 藏 一 丈 夫
 
 
Phiên âm:
 
TỰ THUẬT (NHỊ THỦ)
(Thời cái Quý Sửu, thập lục tuế dã)
 
KỲ NHẤT
 
Tự giác niên phương chí học thu,
Công danh dục toại mỗi cần cù.
Gia tàng hoạt kế thư kỳ bảo,
Lực đại canh sừ bút thị nô.
Ngộ sự xử tùy trung đạo hợp,
Trí thân tất xuất chính đồ do.
Namnhi tự hữu hiển dương sự,
Khẳng tác ngang tàng nhất trượng phu.

 
 
Dịch nghĩa:
 
TỰ THUẬT (HAI BÀI)
(Bấy giờ là năm Quý Sửu [1543], tôi 16 tuổi)
 
BÀI MỘT
 
Tự biết mình tuổi đang lúc để chí vào việc học([3]),
Muốn thỏa chí công danh luôn phải cần cù.
Trong số những sinh kế cất giữ trong nhà,
sách là quý nhất,
Thay cho sức cày bừa, bút ấy là kẻ nô bộc.
Lúc gặp việc xử sự theo đạo Trung([4]),
Khi hiến thân, ắt theo con đường ngay thẳng.
Namnhi tự có chí làm vẻ vang cho cha mẹ,
Há đâu lại chỉ làm một kẻ trượng phu ngang tàng([5]).

 
Dịch thơ:
 
Chí ta đương tuổi học hành
Cần cù để được công danh rỡ ràng.
Mưu sinh nhờ sách trân tàng,
Cày bừa sẵn bút vững vàng thay trâu.
Trung dung giữ đạo nhiệm màu,
Đường quang từ trước đến sau dẫn mình.
Tài trai lập nghiệp hiển vinh,
Ngang tàng phải xứng thân hình trượng phu.
 
                                     Tham Tuyền dịch

 
 
 
其 二
 
世 事 閒 看 似 甕 雞
安 排 富 貴 任 天 倪
不 嫌 白 屋 難 為 養
惟 喜 青 雲 尚 有 棲
松 柏 豈 堪 降 雪 凍
鯨 鯢 那 肯 戀 涔 蹄
南 溟 曾 見 鯤 鵬 奮
羽 翼 超 升 與 漢 齊
 
 
Phiên âm:
 
KỲ NHỊ
 
Thế sự nhàn khan tự úng kê,
An bài phú quý nhậm thiên nghê.
Bất hiềm bạch ốc nan vi dưỡng,
Duy hỷ thanh vân thượng hữu thê.
Tùng bách khởi kham hàng tuyết đống,
Kình nghê na khẳng luyến sầm đề.
Namminh tằng kiến côn bằng phấn,
Vũ dực siêu thăng dữ Hán tề.
 
Dịch nghĩa:
 
BÀI HAI
 
Việc đời xem thường như bọ giấm trong lọ([6]),
An bài phú quý mặc kệ phận định trời sinh([7]).
Chẳng quản gì nhà tranh cảnh nghèo khó sống,
Riêng mừng đường mây nhẹ bước còn có thang lên([8]).
Cây tùng cây bách đâu chịu hàng phục trước tuyết giá([9]),
Cá kình cá nghê đâu chịu lưu luyến vũng nước chân trâu([10]).
Bể Nam thường hiện cá côn hóa chim bằng tung cánh([11]).
Vỗ cánh bay cao ngang với dòng sông Thiên Hà(7).
 
Dịch thơ:
 
Thế sự xem ra tựa bọ giòi,
Giàu sang sắp xếp mệnh trời soi.
Đói nghèo chẳng ngại đường sinh sống,
Vinh hiển mừng vui lối sẵn noi.
Tùng bách há hiềm sương tuyết đọng,
Kình nghê đâu quản lưới chài chòi.
Biển Nam sẽ thấy côn bằng dậy,
Vỗ cánh tung bay vút tận trời.
 
                               Trần Lê Sángdịch

 
 
元 旦 書 堂
時 蓋 甲 辰 之 十 七 歲 也
 
昨 夜 東 風 入 草 廬
信 傳 春 到 五 更 初
庭 因 生 草 知 年 紀
符 不 須 桃 覺 鬼 除
消 長 默 觀 天 地 道
貫 通 細 認 聖 賢 書
每 期 學 與 年 俱 進
自 是 吾 心 樂 有 餘
 
Phiên âm:
 
NGUYÊN ĐÁN THƯ ĐƯỜNG
         (Thời cái Giáp Thìn chi thập thất tuế dã)
 
Tạc dạ đông phong nhập thảo lư,
Tín truyền xuân đáo ngũ canh sơ.
Đình nhân sinh thảo tri niên kỉ,
Phù bất tu đào giác quỉ trừ.
Tiêu trưởng mặc quan thiên địa đạo,
Quán thông tế nhận thánh hiền thư.
Một kỳ học dữ niên câu tiến,
Tự thị ngô tâm lạc hữu dư.
 
Dịch nghĩa:
 
MỒNG MỘT TẾT ĐỀ VÀO NHÀ HỌC
(Bấy giờ là năm Giáp Thìn [1544], tôi 17 tuổi)
 
Đêm qua gió đông thổi vào nhà tranh([12]),
Báo tin cho biết xuân đã đến vào đầu canh năm.
Nhờ cỏ mọc ngoài sân mà thấy rõ năm mới đã sang([13]),
Không cần bùa gỗ đào, cũng biết quỷ bị trừ đuổi([14]).
Lặng nghe đạo trời đất, tiêu hao lại nảy nở,
Hiểu sâu, quán thông được sách thánh hiền.
Thường mong sự học đều tiến lên cùng số tuổi,
Được thế là tâm ta vui có thừa.
 
Dịch thơ:
 
Mái rạ, gió đông đêm trước thổi
Canh năm xuân đã đến hiên nhà
Sân ngoài cỏ mọc mừng năm mới
Cổng trước không bùa cũng hết tà
Ngẫm thấy cơ trời tròn lại khuyết
Mới hay đạo thánh lẽ sâu xa
Tuổi cao sự học hầu cùng tiến
An lạc, thanh nhà ấy chí ta.
 
                                                Đặng Văn Sinhdịch

 
 
記 嚴 父 示 訓 詩
時 蓋 乙 巳 年 之 十 八 歲 也
時 余 之 耘 耕 遊 學 嚴 父 作 此 詩 以 訓 之
 
爾 離 吾 裏 屬 吾 毛
性 本 聰 明 見 識 高
一 簣 用 功 須 學 孔
分 陰 惜 過 且 師 陶
顯 揚 二 字 宜 深 念
遠 大 前 程 勿 憚 勞
跨 灶 克 家 皆 令 子
中 紅 方 可 副 吾 胞
 
Phiên âm:
 
KÝ NGHIÊM PHỤ THỊ HUẤN THI
(Thời cái Ất Tị niên chi thập bát tuế dã. Thời dư chi Vân Canh
 du học, Nghiêm phụ tác thử thi dĩ huấn chi)
 
Nhĩ ly ngô lý chúc ngô mao,
Tính bản thông minh kiến thức cao.
Nhất quỹ dụng công tu học Khổng,
Phân âm tích quá thả sư Đào.
Hiển dương nhị tự nghi thâm niệm,
Viễn đại tiền trình vật đạn lao,
Khoa táo khắc gia giai lệnh tử,
Trúng hồng phương khả phó ngô bào.
 
Dịch nghĩa:
 
CHÉP BÀI THƠ CHA DẠY BẢO
(Bấy giờ là năm Ất Tỵ [1545], tôi 18 tuổi. Khi ấy tôi đi học
tại làng Vân Canh, cha tôi làm bài thơ này để dạy bảo tôi)
 
Con trai, bên trong con gắn liền với tâm phúc cha,
                    bên ngoài con sát chặt với lông da cha([15]),
Bẩm tính con vốn thông minh, kiến thức con vốn cao.
Một sọt đất làm nên núi cũng phải cố hết sức,
                                                  nên học lời Không Tử([16]),
Một khắc thời gian trôi qua cũng phải tiếc,
                                   hãy học theo chí của Đào Khản([17]).
 
Hai chữ “hiển dương” nên để sâu trong tâm niệm([18]),
Tương lai phía trước bao la rộng lớn, chớ có ngại
                                                                     nỗi gian lao.
Hơn cha hay nối được nghiệp cha đều là
            người con tốt cả,
Sao cho đỗ cao mới không phụ lòng cha([19]).
 
Dịch thơ:
 
Cất bước xa nhà, nhớ để lòng
Sách đèn kinh sử dám chạy rông
Tìm sâu nghĩa lý tâm nghiền ngẫm
Tham cứu văn chương sức gắng công
Lập chí báo đền ơn dưỡng dục
Dấn thân quyết vượt cửa hoá rồng
Hải côn há tỉ ao tôm tép
Chờ thấy tung trời rợp cánh lông
 
                                                      Trần Lê Sáng dịch
 
Con là máu thịt của cha
Thông minh vốn sắn, tài hoa hơn đời
Thời gian chớ phí của trời
Một sọt đất cũ ng nhớ lời Khổng gia
Hiển dương tâm niệm lo xa
Vì tương lai chớ nề hà gian lao
Hơn cha, việc đáng tự hào
Khoa này con được đỗ cao cha mừng.
 
                                          Đặng Văn Sinhdịch

 
 
登 佛 跡 山
時 夢 登 佛 跡 山 賦 詩 云
 
足 躡 千 重 上
身 居 第 一 層
回 頭 超 下 品
恍 若 禹 門 登
偶 因 乘 興 到 巖 前
穩 步 雲 衢 上 坦 然
鳥 語 喚 迎 松 下 客
花 容 靜 對 洞 中 仙
足 超 塵 世 三 千 界
手 摘 星 辰 咫 尺 天
試 掃 石 苔 描 些 景
詩 成 筆 已 動 山 川
 
Phiên âm:
 
ĐĂNG PHẬT TÍCH SƠN
(Thời mộng đăng Phật Tích sơn, phú thi vân:)
 
Túc nhiếp thiên trùng thượng,
Thân cư đệ nhất tằng.
Hồi đầu siêu hạ phẩm,
Hoảng nhược Vũ Môn đăng.
Ngẫu nhân thừa hứng đáo nham tiền,
Ổn bộ vân cù thướng thản nhiên.
Điểu ngữ hoán nghênh tùng hạ khách,
Hoa dung tĩnh đối động trung tiên.
Túc siêu trần thế tam thiên giới,
Thủ trích tinh thần chỉ xích thiên.
Thí tảo thạch đài miêu ta cảnh,
Thi thành bút dĩ động sơn xuyên.
 
 
Dịch nghĩa:
 
LÊN NÚI PHẬT TÍCH([20])
(Bấy giờ tôi mộng thấy mình lên núi Phật Tích, vậy có thơ rằng)
 
Chân bước lên trên ngàn trùng,
Thân ở trên tầng cao nhất.
Quay đầu thấy hơn hẳn mọi thứ thấp bé,
Bàng hoàng ngỡ là vượt núi Vũ Môn([21]).
Ngẫu nhiên nhân hứng đến trước núi này,
Nhẹ bước đường mây đi lên, thật là thản nhiên.
Dưới bóng cây tùng có tiếng chim hót đón chào khách,
Trong động nét hoa lặng ngắm tiên.
Chân vượt cả trần gian, vươn đến cả ba ngàn thế giới([22]),
Giơ tay hái lấy các vì sao, tưởng trời gần trong gang tấc([23]).
Thử phủi rêu trên đá, đề thơ miêu tả những cảnh này,
Thơ làm xong, ngọn bút rung động cả núi sông.
 
Dịch thơ:
 
Cất gót ngàn trùng tới,
Nơi đây đệ nhất tằng.
Ngoảnh đầu trông xuống thấp,
Ô! Vượt Vũ Môn chăng?
Bỗng đâu nảy hứng tới rừng thiền,
Nhẹ gót đường mây bước thản nhiên.
Chim dưới bóng thông chào đón khách,
Hoa trong hang núi lặng nhìn tiên.
Hái sao một với trời vịn tới,
Gạt bụi ba nghìn cõi sấn lên.
Vách đá, phủi rêu đề cảnh đẹp,
Thơ thành, bút khuấy động sơn xuyên.
 
                     Tham Tuyền dịch

 


([1]) Bản Ngôn chí thi tập - VHv.1951, ở dưới tên bài Đề Ngôn chí thi tập tự có in dòng chữ nhỏ: “Thử tự tác ư Quý Sửu niên, kim tái biên lục”, nghĩa là: Bài Tựa này viết vào năm Quý Sửu (1553), nay biên chép lại. Như vậy, năm Quý Sửu (1553), khi trước tác thơ được khoảng 10 năm, Phùng Khắc Khoanđã viết Tựa. Sau đó đến năm Bính Tuất (1586), ông mang lời Tựa cũ ra sửa chữa và ghi lại thành bài Tựa chính thức cho thi tập. Điều này ít nhà nghiên cứu để ý tới.
([2])Xem chú thích ở nhan đề bài Tựa này.
([3])Trong Luận ngữ, Khổng Tử nói: “Ta 15 tuổi thì để chí vào học đạo”. Sau câu nói ấy dùng để chỉ hành động tu đạo lập thân và độ tuổi dốc lòng vào học đạo - khoảng 15, 16 tuổi.
([4])Đạo Trung: theo quan điểm của Nho gia, đạo Trung là đạo chính đính, không thiên không lệch.
([5])Ngang tàng: ngông nghênh, tự cao tự đại, xa cách người đời.
([6])Bọ giấm trong lọ: dịch từ “úng kê”; bọ giấm trong lọ lúc nhúc ngoi lên lặn xuống, ở đây có ý xem thường thói tục bon chen.
([7])Phận định trời sinh: dịch từ cụm từ “nhậm thiên nghê”, theo điển lấy từ sách Trang Tử. Trong Trang Tử, “thiên” và “nghê” là chỉ cái phận tự nhiên do trời định.
([8])Câu này ý nói thi đỗ rồi thì đường công danh rộng mở như bước lên tầng mây xanh.
([9])Tùng bách là những cây thắng được giá rét, thường được dùng biểu trưng cho sự kiên trinh của người quân tử.
([10])Cá kình, cá nghê: tên hai loài cá lớn ở biển, dùng để chỉ người tài cao chí lớn muốn vùng vẫy ở đại dương, không chịu sống nơi tù đọng.
([11])-(7) Các điển này đều lấy ở sách Trang Tử, hình tượng cá côn hóa chim bằng tung cánh bay vạn dặm, biểu thị chí khí lớn, không tự giam cầm mình nơi ao tù.
([12])Gió đông: tức gió xuân. Theo quan niệm xưa, gió tự phương đông thổi lại là gió xuân.
([13])Cỏ mọc ngoài sân: dịch chữ “đình thảo”, do điển Chu Đôn Di thường để mặc cỏ mọc ở ngoài sân cho có sinh khí.
([14])Bùa gỗ đào: dịch chữ “đào phù”, đào phù là loại phù hiệu bằng gỗ đào, khắc hay vẽ lên đó hai vị thần là Thần Đồ và Uất Lũy để trừ đuổi ma quỷ. Năm mới người ta thường treo đào phù ở cửa, về sau thường thay đào phù bằng câu đối.
([15])Câu này dùng ý thơ ở thiên Tiểu biền trong Kinh Thi: “Bất chúc vu mao, bất ly vu lý”, nói gọn là “ly lý chúc mao”, ý nghĩa: gắn liền với tâm phúc, khăng khít với da lông, chỉ quan hệ ruột thịt giữa cha mẹ với con cái.
([16])Sách Luận ngữ, thiên Tử Hãn trích lời Khổng Tử rằng: “Người đi học ví như đắp núi, còn một sọt đất nữa thì thành quả núi, nếu bỏ dở thì phí cả công lao trước đó”.
([17]) Đào Khản: một trong những vị khai quốc công thần của nhà Đông Tấn. Ông thường nói: “Đại Vũ là Thánh mới tiếc từng tấc bóng (chỉ quang âm, thời gian trôi qua), người thường nên tiếc từng phân bóng”.
([18])Hiển dương: tức câu “dương thanh danh, hiển phụ mẫu”, nghĩa là làm cho bản thân nổi danh, khiến cho bố mẹ vinh hiển.
([19])Nguyên văn có chữ “trúng hồng”, tức “trúng hồng tâm”, bắn trúng hồng tâm, trúng đích, ý nói người đỗ đạt cao.
([20])Núi Phật Tích: tức Sài Sơn, có Chùa Thầy, một thắng cảnh thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây, quê hương Phùng Khắc Khoan.
([21])Vũ Môn: tức Long Môn, có mỏm đá hình cánh cửa. Đại Vũ đục cho rộng thêm để trị thủy nên gọi là Vũ Môn. Tương truyền đến mùa nước, cá đua nhau đến đó nhảy thi, con nào qua được thì hóa rồng. Điển này sau dùng để chỉ học trò thi đỗ.
([22])Ba ngàn thế giới: theo quan niệm nhà Phật thì vũ trụ có ba ngàn thế giới, cho nên ba ngàn thế giới cũng là một cách nói chỉ cả vũ trụ.
([23])Thơ Lý Bạch có câu: “Nguy lâu cao bách xích, thủ khả trích tinh thần” (Lầu cao quá, cao hàng trăm thước, với tay có thể hái được sao). Phùng Khắc Khoancó lẽ đã dùng ý thơ của Lý Bạch để tả độ cao của núi Phật Tích.