(Thứ năm, 26/02/2026, 10:04 GMT+7)

 

 
Ngôn chí thi tập là tên tác phẩm do chính tác giả đặt ra và ghi lại trong lời Tựa. Ngôn chí thi tập theo từng năm mà viết ra, cứ 10 năm thì đóng thành tập, kể từ năm 16 tuổi đến năm 86 tuổi phải có tới 7 tập, nhưng tác phẩm hiện chỉ còn đến cuối tập V, lúc tác giả chừng 60 tuổi. Tổng tất cả thơ Ngôn chí còn lại khoảng hơn 240 bài. Mấy trăm bài thơ trong tập Ngôn chí được viết trong thời gian gần 50 năm, từ thuở thiếu thời đến buổi vãn niên. Nội dung của tập thơ trải ra trên mọi mặt sinh hoạt, tâm trạng, hành vi, lý tưởng trong gần suốt cuộc đời tác giả. Tập thơ vừa có tính chất kỷ sự, vừa có tính chất trữ tình. Có thể xem đó là tiếng nói chân thành và trung hậu của một sĩ đại phu có tâm huyết, hoài bão, có niềm ưu ái và lòng yêu nước thương đời.

Thơ tuyển chọn những bài tiêu biểu.
 
 

 

Khuôn viên đền thờ Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan tại Hà Nội

 
除 夕
 
好 把 新 詩 送 舊 年
終 宵 守 歲 未 成 眠
千 門 城 市 開 燈 火
幾 簇 樓 臺 鬧 管 絃
冬 半 夜 前 寒 尚 淺
春 三 更 後 信 初 傳
窗 前 已 有 梅 花 曆
數 學 堪 推 邵 先 天
 
Phiên âm:
 
TRỪ TỊCH
 
Hảo bả tân thi tống cựu niên,
Chung tiêu thủ tuế vị thành miên.
Thiên môn thành thị khai đăng hỏa,
Kỷ thốc lâu đài náo quản huyền.
Đông bán dạ tiền hàn thượng thiển,
Xuân tam canh hậu tín sơ truyền.
Song tiền dĩ hữu mai hoa lịch,
Số học kham suy Thiệu tiên thiên.
 
Dịch nghĩa:
 
ĐÊM BA MƯƠI TẾT
 
Hãy đem thơ mới tiễn năm cũ,
Suốt đêm giữ năm cũ mà không được ngủ.
Hàng ngàn cửa nhà ở thị thành sáng đèn đuốc,
Lâu đài bao nhiêu chỗ náo rộn tiếng đàn sáo.
Trước lúc nửa đêm là mùa đông, khí rét vẫn còn rớt lại,
Thế mà sau lúc canh ba tin xuân đã truyền về.
Trước cửa sổ đã có lịch bằng cây mai nở hoa,
Nói về số học, thật phục cách học của Thiệu Tử([1]).
 
Dịch thơ:
 
Tân thi viết tiễn cựu niên
Suốt đêm trằn trọc chẳng yên giấc vàng
Thị thành đèn đuốc sáng choang
Lâu đài náo nhiệt rộn ràng đàn ca
Nửa đêm lạnh vẫn chưa qua
Tin xuân sau lúc canh ba đã truyền
Hoa mai nở trắng ngoài hiên
Ngẫm ra thật phục cơ huyền Thiệu khang.
 
                                                   Đặng Văn Sinhdịch
 
 
 
 
元  日
時 蓋 己 酉 二 十 二 歲 也
 
天 機 往 復 妙 難 言
節 到 今 朝 又 上 元
夏 曆 初 頒 新 歲 月
春 光 頓 改 舊 乾 坤
好 將 綠 蟻 酬 華 旦
學 剪 金 雞 帖 上 門
最 愛 東 風 曾 識 面
早 傳 春 信 到 花 根
 
Phiên âm:
 
NGUYÊN NHẬT
(Thời cái Kỷ dậu, nhị thập nhị tuế dã)
 
Thiên cơ vãng phục diệu nan ngôn,
Tiết đáo kim triêu hựu thượng nguyên.
Hạ lịch sơ ban tân tuế nguyệt,
Xuân quang đốn cải cựu càn khôn.
Hảo tương lục nghị thù hoa đán,
Học tiễn kim kê thiếp thượng môn.
Tối ái đông phong tằng thức diện,
Tảo truyền xuân tín đáo hoa côn (căn).
 
 
Dịch nghĩa:
 
MỒNG MỘT TẾT
(Bấy giờ là năm Kỷ Dậu [1549],tôi 22 tuổi)
 
Máy trời vần xoay qua lại thật là kỳ diệu khó nói,
Tết đến sớm nay lại là ngày đầu năm.
Lịch nhà Hạ mới ban ra năm tháng mới,
Quang cảnh xuân liền đổi cả trời đất cũ.
Nên đem rượu tăm ra uống ngày đầu năm,
Học cách cắt gà vàng, dán trên cửa sổ([2]).
Gió đông rất đáng yêu ta từng biết mặt,
Nó đã sớm truyền tin xuân về đến rễ hoa rồi.
 
Dịch thơ:
 
Cơ trời sắp đặt thật thông huyền
Tết sớm bây giờ đã thượng nguyên
Lịch cũ vừa sang năm tháng mới
Cảnh xuân phút chốc đổi càn khôn
Rượu tăm nên rót mừng nguyên đán
Học cắt gà vàng dán trước tường
Rất thích gió đông ta mới gặp
Sớm đưa tin trước báo xuân sang.
 
                                        Đặng Văn Sinhdịch
 
 
 
 
 
除 夕 書 懷
 
待 春 坐 對 小 書 齋
終 夜 挑 燈 約 共 來
鬼 去 何 勞 催 爆 竹
神 清 獨 自 好 觀 梅
人 心 直 與 天 心 合
歲 事 何 嫌 世 事 催
冬 去 春 來 風 景 好
百 花 從 此 向 陽 開
 
Phiên âm:
 
TRỪ TỊCH THƯ HOÀI
 
Đãi xuân tọa đối tiểu thư trai,
Chung dạ khiêu đăng ước cộng lai.
Quỷ khứ hà lao thôi bộc trúc,
Thần thanh độc tự hiếu quan mai.
Nhân tâm trực dữ thiên tâm hợp,
Tuế sự hà hiềm thế sự thôi.
Đông khứ xuân lai phong cảnh hảo,
Bách hoa tòng thử hướng dương khai.
 
Dịch nghĩa:
 
ĐÊM BA MƯƠI TẾT VIẾT BÀY TỎ NỖI LÒNG
 
Ngồi trong phòng sách nhỏ đợi xuân về,
Suốt đêm khêu ngọn đèn luôn để hẹn xuân cùng lại.
Ma quỷ khắc sẽ đi, chả phải phiền đốt pháo đuổi,
Tinh thần thanh sảng, một mình vui xem hoa mai,
Lòng người thẳng ngay đã hòa hợp với thiên tâm,
Việc trong năm quản gì việc đời thúc bách.
Đông qua xuân lại phong cảnh tốt đẹp,
Trăm thứ hoa cũng theo đó mà nở tràn.
 
Dịch thơ:
 
Một mình lặng lẽ phòng văn
Khêu đèn ngồi đợi tin xuân đang về
Chẳng đốt pháo, quỷ cũng đi
Tinh thần sảng khoái cần gì hoa mai
Lòng người hòa hợp ý trời
Việc nhà chẳng quản sự đời gian nan
Đông qua xuân lại tuần hoàn
Trăm hoa đua sắc nở tràn khắp nơi.
 
                                               Đặng Văn Sinh dịch
 
 
 
 
夢 覺 偶 成
 
長 宵 臥 對 小 齋 東
夢 到 君 門 第 九 重
面 對 龍 顏 纔 密 邇
親 承 天 語 好 雍 容
到 頭 頓 與 凡 塵 敻
拭 目 頻 添 喜 氣 濃
來 日 青 雲 如 得 路
定 知 天 意 已 先 從
 
Phiên âm:
 
MỘNG GIÁC NGẪU THÀNH
 
Trường tiêu ngọa đối tiểu trai đông,
Mộng đáo quân môn đệ cửu trùng.
Diện đối long nhan tài mật nhĩ,
Thân thừa thiên ngữ hảo ung dung.
Đáo đầu đốn dữ phàm trần quýnh,
Thức mục tần thiêm hỷ khí nùng.
Lai nhật thanh vân như đắc lộ,
Định tri thiên ý dĩ tiên tùng.
 
Dịch nghĩa:
 
TỈNH MỘNG BẤT CHỢT THÀNH THƠ
 
Đêm dài nằm quay mặt về phía đông ngôi nhà học nhỏ,
Chiêm bao đi tới lần cửa thứ chín trong cung vua([3]).
Được đối diện với long nhan, thật là sát gần,
Thân tiếp lời vua thật là ung dung.
Quay đầu nhìn lại, thấy rõ là xa cách phàm trần,
Giụi mắt trông lên khí vui thêm nồng nàn.
Sau này đường mây nếu như được nhẹ bước([4]),
Thật biết rõ ý trời đã sớm định theo lòng người.
 
Dịch thơ:
 
Đêm dài ngoảnh mặt trái nhà đông
Mộng đến hoàng cung gặp cửu trùng
Lặng ngắm long nhan gần sát mặt
Tiếp lời thiên tử thật ung dung
Ngoảnh đầu nhìn lại phàm trần cách
Dụi mắt trông lên thụy khí nồng
Ngày khác đường mây ta nhẹ bước
Mới hay trời đất cũng chiều lòng.
 
                                            Đặng Văn Sinhdịch
 
 
 
 
 
 
元  日
時 蓋 辛 亥 之 二 十 四 歲 也
 
人 嫌 歲 月 去 如 流
我 喜 年 芳 與 我 俱
暖 日 迎 來 好 時 節
春 風 送 入 美 屠 蘇
不 妨 飛 箭 催 光 影
更 把 新 桃 換 舊 符
惟 有 梅 花 心 結 友
年 年 占 榜 似 吾 儒
 
Phiên âm:
 
NGUYÊN NHẬT
(Thời cái Tân Hợi chi nhị thập tứ tuế dã)
 
Nhân hiềm tuế nguyệt khứ như lưu,
Ngã hỷ niên phương dữ ngã câu.
Noãn nhật nghênh lai hảo thời tiết,
Xuân phong tống nhập mỹ đồ tô.
Bất phương phi tiễn thôi quang ảnh,
Cánh bả tân đào hoán cựu phù.
Duy hữu mai hoa tâm kết hữu,
Niên niên chiếm bảng tự ngô nho.
 
Dịch nghĩa:
 
NGÀY ĐẦU NĂM
(Bấy giờ là năm Tân Hợi [1551], tôi 24 tuổi)
 
Người ta buồn bực vì nỗi năm tháng trôi qua
               như nước chảy,
Ta thì vui mừng tuổi xuân xanh([5]) cùng song hành với ta.
Khí trời ấm áp đưa tiết tốt đến,
Gió xuân đưa dồn vào chén rượu đồ tô([6]) ngon.
Chả ngại gì ánh xuân quang trôi đi nhanh như tên bay,
Hãy cứ đem gỗ đào mới thay cho bùa đào([7]) cũ.
Chỉ có hoa mai đáng kết bạn đồng tâm với ta,
Năm nào cũng nở đầu tiên giống như nhà Nho
                                                            ta thi đỗ đầu vậy.
 
Dịch thơ:
 
Tháng năm trôi khiến người buồn
Ta vui vì tuổi xanh luôn bên mình
Trời ấm áp, khí tốt sinh
Đồ tô một chén mượn tình gió say
Ánh xuân chẳng ngại tên bay
Hãy đem bùa mới mà thay gỗ đào
Hoa mai kết bạn thanh cao
Giống như năm nào ta đỗ thủ khoa.
 
                                                 Đặng Văn Sinhdịch
 
 

 


([1])Thiệu Tử: tức Thiệu Khang Tiết, một nhà Lý học đời Tống. Ông có bộ Mai hoa dịch số, chuyên đoán về biến đổi của vận số.
([2])Ngày xuân người ta cắt con gà bằng giấy hay bằng lụa để chơi tết mong tránh được điều dữ, mong gặp điều lành.
([3])Lần cửa thứ chín: chỉ nơi vua ở thâm nghiêm, cũng là ý chỉ hoàng quyền, chốn cung đình nói chung.
([4])Đường mây nhẹ bước: chỉ việc đỗ đạt, thỏa ý nguyện công danh bằng con đường khoa cử.
([5])Tuổi xuân xanh: dịch chữ “niên phương”. “Niên phương” hay“niên hoa” đều chỉ khoảng thời gian tươi sáng tốt đẹp. Ở đây chỉ tuổi xuân của con người.
([6])Chén rượu đồ tô: chỉ thứ rượu dùng uống trong ngày tết, người lớn trẻ con trong gia đình theo thứ tự mà chúc rượu mừng tuổi nhau.
([7])Bùa đào: một loại phù hiệu bằng gỗ đào treo ngoài cửa nhà vào dịp tết để trừ ma đuổi quỷ.